
Hình minh họa
Định nghĩa Tăng này theo Kinh Tạp A Hàm. Định nghĩa này xuất hiện rất nhiều lần trong kinh, kinh nào cũng có. Ở đây chỉ trích một đoạn thôi.
ĐỊNH NGHĨA TĂNG
(Theo Kinh Tạp A Hàm)
Nên niệm công đức Tăng, là bậc thiện xảo thú hướng, chân chánh thú hướng, trực chỉ thú hướng, bình đẳng thú hướng, tu hạnh tùy thuận; đó là vị hướng Tu-đà-hoàn, đắc quả Tu-đà-hoàn; hướng Tư-đà-hàm, đắc quả Tư-đà-hàm; hướng A-na-hàm, đắc quả A-na-hàm; hướng A-la-hán, đắc quả A-la-hán.
Như vậy, bốn đôi, tám bậc, đó gọi là Tăng đệ tử của Thế Tôn, đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, đầy đủ giải thoát, đầy đủ giải thoát tri kiến; là phước điền vô thượng của thế gian, là nơi cúng dường, cung kính, lễ bái.
(Trích từ Kinh 553. Ha-Lê (4) – Kinh Tạp A Hàm)
Quý vị thấy ở đây có mấy đức tính của Tăng như: thiện xảo thú hướng, chân chánh thú hướng, trực chỉ thú hướng, bình đẳng thú hướng, tu hạnh tùy thuận. Những hạnh này chúng ta sẽ học ở phần sau.
Bây giờ muốn nói rằng ở đây có tám địa vị, gọi là bốn đôi tám bậc:
Tám bậc như vậy mới gọi là Tăng. Nhớ!
Như vậy, không cần biết người tại gia hay người xuất gia, mà đắc Tu-đà-hoàn hướng trở lên thì mới gọi là Tăng.
Tu-đà-hoàn hướng, Tu-đà-hoàn; Tư-đà-hàm hướng, Tư-đà-hàm; A-na-hàm hướng, A-na-hàm; A-la-hán hướng, A-la-hán thì mới gọi là Tăng.
Nhiều khi mình cứ thấy người xuất gia thì cho là Tăng; chưa chắc là Tăng, có thể là phàm phu Tăng. Định nghĩa Tăng của Đức Phật là như thế, chứ không phải những người phàm phu.
Định nghĩa Tăng này nói rất nhiều lần trong Kinh này cũng như kinh khác. Chúng ta hiểu điều đó thì sẽ không có vấn đề.
Ở đây nói Tăng là đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, đầy đủ giải thoát và giải thoát tri kiến, thì người đó mới là vô thượng phước điền của thế gian và là nơi cúng dường thoải mái.
Mình thấy người xuất gia chưa chắc là Tăng. Nhiều khi xuất gia mà không hành theo Chánh pháp thì đó là Sa-môn của đạo Bà-la-môn, không phải Sa-môn của Phật giáo. Cho nên mình phải hiểu.
Người ta không tin. Ví dụ gia đình quý vị nói ông thầy thế này thế kia, quý vị nói: Đức Phật không tính mấy người đó. Đức Phật nói người nào chứng Tu-đà-hoàn hướng trở lên mới được gọi là Tăng.
Đó là định nghĩa theo Kinh Tạp A Hàm. Bây giờ chúng ta vào định nghĩa Tăng theo Kinh Tương Ưng Bộ.
ĐỊNH NGHĨA TĂNG
(Theo Kinh Tương Ưng Bộ)
Nếu các ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng.
Bài kinh này chúng ta đã học mấy lần rồi, nhưng mỗi lần trích một đoạn. Đó là Kinh Đầu Ngọn Cờ.
Vua trời Đế Thích khi chiến đấu với A-tu-la nói rằng: khi các chư Thiên sợ hãi, hãy niệm nhớ đến đầu ngọn cờ của Tứ Thiên Vương; nếu không được thì nhớ đến cờ của Đế Thích.
Đức Phật nói cũng vậy: những người bình thường nếu sợ hãi thì hãy niệm nhớ đến Phật; không nhớ đến Phật thì niệm nhớ đến Pháp; không nhớ đến Pháp thì niệm nhớ đến Tăng, thì sự sợ hãi sẽ không còn.
Cho nên khi nào gặp sợ hãi, nhớ niệm Phật – Pháp – Tăng là được. Với bài kinh này, hôm nay học tới đoạn Tăng. Định nghĩa Tăng như sau:
“Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là:
(1) bậc Thiện hạnh;
(2) bậc Trực hạnh;
(3) bậc Chánh hạnh;
(4) bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng.
Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn:
(5) đáng được cúng dường,
(6) đáng được hiến dâng,
(7) đáng được bố thí,
(8) đáng được chắp tay,
(9) là vô thượng phước điền ở trên đời.”
Này các Tỳ-kheo, khi các ông niệm nhớ đến chúng Tăng, thì sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.
(11.3. Dhajaggam – Đầu Lá Cờ, Chương 11: Tương Ưng Sakka – Kinh Tương Ưng Bộ)
Thích Thiện Trang