Khoảng 3 năm trước, có một thí chủ nữ rất thân quen với tôi qua đời vì ung thư tim.
Cô ấy là một người vô cùng cung kính Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.
Trong làng, cô nổi tiếng là người nấu ăn ngon, đảm đang, không bao giờ vắng mặt khi cần vào bếp. Ngày nào cô cũng chuẩn bị cơm cúng dường chư Tăng, không thiếu một ngày.
Trong mọi khóa tu, nếu không có cô ấy thì gần như không ai đảm đương nổi việc phục vụ. Cô luôn tích cực làm việc, siêng năng và tháo vát. Nhưng có một điều, cô không bao giờ ngồi thiền. Khi được khuyên nên hành thiền, cô chỉ cười:
"Con còn trẻ. Sau này con sẽ hành thiền."
Cô chỉ cúng dường, phục vụ và làm công quả mà thôi.
Rồi bỗng một ngày, cô phát bệnh ung thư tim. Ban đầu, không ai nghĩ đó là ung thư. Gia đình chỉ chữa bằng phương pháp dân gian và đốt thuốc.
Tôi từng nhắc nhở gia đình nên đưa cô lên Yangon để khám và chữa trị bài bản. Nhưng họ không xem trọng. Thời gian trôi qua 4–5 tháng, rồi đến 8 tháng, họ vẫn chỉ chữa tại chỗ.
Cuối cùng, khi bệnh trở nặng, họ mới đưa cô lên Yangon.
Lúc đó, cô mới bắt đầu nhớ đến Pháp, đến thiền.
Tôi có chỉ qua điện thoại cho cô cách ghi nhận Pháp, cách quán thọ, cách xả ly dính mắc, nhưng chỉ được vài lần ngắn ngủi.
Trong suốt 6 tháng ở bệnh viện, cô nghe Pháp bằng máy MP3 gần như liên tục. Nhưng không có Thiền sư bên cạnh, không có bạn đạo trợ duyên nên không thể phát sinh tuệ quán, không thể thâm nhập thân tâm.
Việc hành Pháp của cô chỉ là bắt chước, rập khuôn.
Cô vẫn còn nhiều chấp trước với làng mạc, chấp vào tôi, chấp vào những việc mình từng làm trong các khóa tu.
Nhưng chấp nặng nhất là chồng và hai người con trai.
Ngay cả khi đang nằm viện, mỗi khi có ai từ quê lên thăm, cô luôn nhắc đi nhắc lại những điều ấy. Người bên cạnh phải liên tục truyền lời lại rằng cô nói về chồng, con, làng xóm...
Không lâu sau đó, tôi nhận được tin cô đã mất. Khi lâm chung, bệnh rất nặng, chấp trước cũng rất nặng. Không có ai có thể nói cho cô lời Pháp. Những người đến chỉ nói chuyện nhà cửa, chồng con và những điều làm tăng thêm sự chấp trước.
Và cô ra đi trong trạng thái tâm như vậy.
Thậm chí, khi hấp hối, cô còn yêu cầu tắt những đoạn Pháp mà mình từng thích nghe vì không thể chịu đựng nổi.
Thân chịu quá nhiều đau đớn, tâm không thể chú ý vào âm thanh của Pháp được nữa.
Khi cô mất ở Yangon, chỉ một lát sau, "vong linh" (theo cách nói dân gian) đã về tới nhà.
Hàng rào bị đổ.
Nồi chén bị xáo trộn.
Cửa nhà bị đóng sập bất thường.
Đêm đến, người ta thấy cô đi lang thang trên đường, hiện hình đủ dạng để dọa người. Trong nhà cũng xảy ra nhiều hiện tượng kỳ lạ.
Gia đình nói cô không siêu thoát, thường hiện về hù dọa đủ kiểu.
Người chồng rất khó chịu khi nghe ai nói như vậy.
Vì thế, người trong làng không ai dám nhắc đến. Chỉ còn các vị sư thay phiên nhau đến cúng dường, làm phước và hồi hướng.
Nhưng mọi chuyện còn tệ hơn khi người chồng sau đó lấy vợ mới.
Ban đầu, gia đình còn giấu, che đậy.
Nhưng về sau không thể giấu được nữa vì hiện tượng ngày càng rõ.
Người phụ nữ đã qua đời này bắt đầu ám ảnh khắp nơi. Cô hiện về nói đủ chuyện, than phiền việc chồng lấy vợ mới, rằng mình đói khát, không nơi nương tựa, không được quan tâm. Cô liên tục làm phiền người vợ mới của chồng, khiến người đó bị dọa nạt đến mức không chịu nổi.
Có lúc, cô còn lên giường nằm chung, kéo chân và tát người vợ mới.
Người nhà làm phước, cúng dường, kêu gọi mọi người hô "Sādhu", nhưng cô không thể nhận phần phước được hồi hướng.
Những đoạn Pháp cô từng rất yêu thích cũng không thể nghe được nữa.
Cô bảo:
"Đừng mở Pháp, đừng nói chuyện Pháp, đừng hồi hướng. Tôi không chịu nổi. Đầu óc rối loạn, tâm không tập trung được."
Người ta khuyên cô:
"Trước kia chị rất kính quý vị Thiền sư ở chùa rừng ấy mà, hãy về nương tựa đi."
Cô đáp:
"Tôi nhớ chứ... nhưng đừng nói nữa. Tôi không thể nhìn thấy Ngài. Nếu thấy thì mắt tôi như muốn nổ tung. Tôi không thể nghe tiếng Ngài. Nếu nghe thì tai tôi đau nhức, không chịu nổi."
Ngay cả khi vị Thiền sư ấy đi khất thực ngang qua nhà, cô cũng phải lánh thật xa.
Ôi... thật đau lòng biết bao!
Người phụ nữ từng cúi mình sát đất, chắp tay lễ lạy đầy tôn kính mỗi khi gặp Thiền sư. Người từng thu âm bài giảng của thầy vào máy MP3 để nghe hằng đêm, hôm nay lại không dám nhìn, không dám nghe, không thể chịu đựng nổi.
Ôi... quá đỗi đau lòng!
Chuyện này là sự thật. Tôi nghe tận tai mà còn không dám tin.
Đáng sợ biết bao!
Những chấp thủ khởi lên lúc lâm chung có sức mạnh ghê gớm đến như thế. Khi còn có cơ hội thực hành, cô viện cớ còn trẻ, chưa đến lúc, bận bịu đủ điều, trì hoãn hết lần này đến lần khác.
Đến khi những quả khổ trực tiếp giáng xuống, cô không thể trách ai, cũng chẳng ai thay thế được.
Không ai có thể giải thoát thay cho cô.
Có phải vì khi chưa trả bằng trí tuệ thì đến lúc phải trả bằng thân xác hay không?
Không biết phải trôi lăn bao nhiêu năm nữa mới thoát ra khỏi ác nghiệp ghê gớm ấy...
Có phải nghiệp cận tử xen vào lúc sắp chết là điều vô cùng đáng sợ?
Vì vậy, chính Đức Phật đã dạy:
"Trong một trăm ngàn người chết, không có đến một người sinh về thiện thú."
Cho nên, các thí chủ đang đọc bài Pháp này, xin đừng để mình trở thành một thí chủ bất hạnh như cô ấy. Đừng trông chờ vào việc làm phước, cúng dường hay công quả mà quên mất phải lấy trí tuệ làm chỗ nương tựa. Hãy dồn sức hành thiền Vipassanā, nuôi lớn trí tuệ ngay khi còn sống.
Vì sao?
Bởi cái gọi là "ăn năn muộn màng" sau khi chết không bảo đảm rằng bạn còn cơ hội để sửa chữa.
Hãy đi trên con đường chắc chắn ngay khi còn sống.
Nguyện đem lòng từ bi chia sẻ bài Pháp này.
Bài viết không nhằm hạ thấp danh dự gia đình thí chủ quá cố, mà chỉ mong khơi dậy sự tỉnh thức nơi người đọc.
Ashin Kāwida
Tu viện núi Yoma, bang Rakhine, Myanmar
Nguồn: Thiền sư Ottamathara