Ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch là ngày Tết Đoan Ngọ, còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Đoan Dương, Trùng Ngũ, Tết Giết Sâu Bọ, Tết Giữa Năm, Tết Mồng Năm... Đây là một trong những ngày Tết truyền thống tại một số nước châu Á như Việt Nam, Triều Tiên và Trung Quốc. Tuy nhiên, nguồn gốc và ý nghĩa thực sự của ngày Tết này không phải ai cũng hiểu rõ.

Những món ăn thường dùng trong Tết Đoan Ngọ. Ảnh: Dân Linh
Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, Tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 là một trong những ngày lễ tưởng nhớ tổ tiên. Vì vậy, trong các vật phẩm dâng cúng không thể thiếu bánh tổ (tổ tiên) và nhiều loại bánh trái được làm từ gạo nếp. Đặc biệt, đây còn là ngày lễ thiêng liêng trong tâm thức người Việt, được xem là ngày giỗ Quốc mẫu Âu Cơ.
Nếu như mồng 7 tháng Giêng là ngày tế Mẫu với câu ca:
“Mồng Bảy trong tiết tháng Giêng
Dân hiền tế lễ trống chiêng vang trời
Anh em Bách Việt ta ơi
Ngày xuân thong thả tới nơi xem tường
Ấy ngày hội tế Mẫu Vương
Người sinh nòi giống Nam phương đó mà”
thì cứ đến gần ngày mồng 5 tháng 5, dân gian lại nhắc nhau bằng câu ca dao:
“Tháng Năm nhớ Tết Đoan Dương
Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang”.
Tết Đoan Ngọ còn là ngày lễ thể hiện tính nhân văn giữa người với người, sự biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, của người bệnh đối với thầy thuốc, của học trò đối với thầy giáo. Vì thế có tục học trò đi Tết thầy, con rể đi Tết bố mẹ vợ...
Trong dân gian có câu ca dao:
“Mồng Năm ngày Tết không đáo đến cửa nhà thờ
Còn hiếu trung chi nữa mà chờ rể, con”.
Dân gian còn cho rằng vào ngày này, các loài rắn đều lẩn trốn đi hết nên mới có câu thành ngữ: “Len lét như rắn mồng Năm”.
Với người Việt, Tết Đoan Ngọ là thời điểm giữa năm, thời tiết chuyển mùa nên dễ phát sinh bệnh dịch. Vì vậy xuất hiện nhiều nghi thức trừ tà, phòng bệnh như tắm nước lá mùi, treo cây ngải cứu trừ ma quỷ, đeo bùa túi, nhuộm móng tay, móng chân rồi uống các loại nước giải độc nấu từ lá ích mẫu, lá vối, cối xay, gừng..., uống rượu xương bồ, ăn rượu nếp và các loại quả có vị chua, chát để tiêu trừ bệnh tật, diệt trùng độc, sâu bọ.
Chính vì thế, ngày Tết này còn được gọi là Tết Giết Sâu Bọ, mang ý nghĩa cân bằng âm dương và bảo vệ sức khỏe.
Một số nghi thức trong Tết Đoan Ngọ của người Việt còn mang đậm dấu ấn văn hóa nông nghiệp. Tiêu biểu là tục khảo cây lấy quả được tiến hành đúng giờ Ngọ (12 giờ trưa). Một người leo lên cây, một người đứng dưới gốc cầm dao tra hỏi vì sao cây ra ít hoặc không ra quả, nếu tiếp tục như vậy sẽ bị chặt hạ. Người trên cây giả giọng van xin, hứa mùa tới sẽ ra thật nhiều quả. Sau đó, người ở dưới hỏi số lượng quả mà cây sẽ sinh trưởng, người phía trên đại diện cho cây trả lời nhiều hay ít tùy theo từng loại cây và ước vọng của người trồng.
Cho đến nay, nhiều người vẫn nhầm lẫn rằng Tết Đoan Ngọ có nguồn gốc từ Trung Quốc và xuất phát từ việc tưởng nhớ cái chết của Khuất Nguyên, một vị quan nước Sở cách đây hơn 2.000 năm.
Chính vì thế, nhà thơ trào phúng Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ) từng viết:
“Cái cụ Khuất bên Tàu
Chết từ hồi tam tổ
Có quan hệ gì ta
Mà sao phải ăn giỗ
Mồng Năm khỏe ăn càn
Mồng Sáu ốm nhăn nhó
Có lỡ chết bỏ đời
Thì lại cho tại số”.
Ngay chính người Trung Quốc đến nay cũng chưa thống nhất trong việc giải thích nguồn gốc ngày Tết này. Có ý kiến cho rằng một số lễ Tết của Trung Quốc như mồng 2 tháng 2 âm lịch (Lễ Đầu Rồng), mồng 5 tháng 5 (Tết Đoan Ngọ)... liên quan đến tín ngưỡng thiên văn thời nguyên thủy.
Theo sách Các ngày lễ Tết và sự bắt nguồn của các ngày lễ Tết ở Trung Quốc, trước thời Tần - Hán, ngày Tết Đoan Ngọ không cố định vào mồng 5 tháng 5 mà diễn ra vào ngày Hạ chí, thời điểm dương khí cực thịnh nên còn gọi là Tết Đoan Dương.
Gọi là Tết Đoan Ngọ vì ngày hôm đó chuôi sao Đẩu chỉ đúng phương Ngọ nên gọi là ngày Đoan Ngọ, tức chính Ngọ.
Thực tế, Tết Đoan Ngọ đã xuất hiện trước khi có câu chuyện về Khuất Nguyên và bắt nguồn từ văn hóa của cộng đồng Bách Việt cổ, trong đó người Lạc Việt - tổ tiên của người Việt ngày nay - là một bộ phận cấu thành.
Có thể thấy điều này ngay từ tên gọi. “Đoan” nghĩa là bắt đầu, “Ngọ” là thời điểm giữa trưa. Vì vậy, Tết Đoan Ngọ thường được cử hành vào giữa trưa.
Theo thuyết âm dương ngũ hành, nước ta nằm ở phương Nam, thuộc vùng đất nóng. Trong một ngày, dương khí mạnh nhất vào giờ Ngọ; trong một tháng, dương khí mạnh nhất vào ngày Ngọ; trong một năm, dương khí cực thịnh vào tháng Ngọ, tức tháng giữa năm. Vì thế, đây được xem là thời điểm giữa năm và dân gian còn gọi là Tết Giữa Năm.
Điều thú vị là nếu xét theo âm lịch hiện nay mà Việt Nam, Trung Quốc và nhiều nước Đông Á đang sử dụng thì giữa năm phải rơi vào tháng 6 âm lịch chứ không phải mồng 5 tháng 5.
Điều đó cho thấy nguồn gốc ngày giữa năm mồng 5 tháng 5 bắt nguồn từ một loại lịch cổ của người Bách Việt được xây dựng trên cơ sở văn hóa nông nghiệp.
Dấu tích của loại lịch này vẫn còn lưu lại qua cách gọi tên tháng như Một, Chạp, Giêng, Hai... hay cách gọi ngày đầu tháng là “mồng”, ngày giữa tháng là “rằm”. Từ “rằm” còn có nét tương đồng với một số ngôn ngữ dân tộc như “ranam” của người Chăm, “sạc klam” của người Khmer hay “klam” của người Bana, đều chỉ ngày trăng tròn nhất.
Lịch cổ của người Bách Việt còn thể hiện qua hệ thống Can Chi. Trái với suy nghĩ quen thuộc rằng Can Chi có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhiều nghiên cứu cho rằng hệ thống này bắt nguồn từ nền văn hóa nông nghiệp phương Nam.
Theo cách tính lịch cổ của người Bách Việt, năm bắt đầu từ tháng Tý, tức tháng lạnh nhất trong năm. Khi đó, tháng Ngọ chính là tháng giữa năm và cũng là thời điểm nóng nhất, dương khí mạnh nhất nên được gọi là Đoan Dương.
Theo cách tính này, tháng Tý ứng với tháng 11 âm lịch hiện nay. Người Việt cổ gọi tháng này là tháng Một, tháng 12 là tháng Chạp, tháng 1 âm lịch là tháng Giêng. Cách gọi ấy vẫn còn được lưu giữ trong đời sống dân gian.
Nếu theo âm lịch hiện hành, tháng đầu năm là tháng Dần nên giữa năm phải là tháng Mùi, tức tháng 6 âm lịch. Điều này càng cho thấy Tết Đoan Ngọ mang dấu ấn của lịch pháp Bách Việt chứ không phải bắt nguồn từ hệ thống lịch Trung Hoa.
Sách Đại Nam nhất thống chí còn ghi nhận rằng đầu thế kỷ XIX, người dân vùng Bất Bạt (nay thuộc Ba Vì, Hà Nội) và Mỹ Lương (nay thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội) vẫn lấy tháng 11 làm tháng đầu năm.
Một số dân tộc thiểu số như người Khơ Mú cũng bắt đầu năm mới từ tháng 11 âm lịch, sớm hơn Tết Nguyên đán của người Việt hai tháng. Đây được xem là những dấu tích còn lại của hệ thống lịch cổ Bách Việt.
Ban đầu, ngày Đoan Ngọ ở Trung Quốc là dịp dân chúng cúng lễ để đánh dấu thời tiết mới, mừng sự trong sáng, quang đãng của đất trời. Do thời điểm giữa mùa hạ thường phát sinh bệnh dịch nên người ta cúng lễ để cầu bình an.
Về sau, ngày này được gắn với việc tưởng niệm Khuất Nguyên. Ông là đại thần nước Sở vào cuối thời Chiến Quốc, nổi tiếng là người trung nghĩa và là nhà văn hóa lớn của Trung Hoa cổ đại.
Tương truyền, Khuất Nguyên là tác giả của các tác phẩm nổi tiếng như Ly Tao và Sở Từ. Do can gián vua Hoài Vương không thành, lại bị gian thần hãm hại, ông đã gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn vào ngày mồng 5 tháng 5.
Thương tiếc vị trung thần, người dân Trung Quốc hằng năm làm bánh, buộc chỉ ngũ sắc rồi chèo thuyền ra sông thả xuống nước để tưởng niệm ông. Đây là nguồn gốc của truyền thuyết gắn với Tết Đoan Ngọ tại Trung Quốc.
Tết Đoan Ngọ ngày nay, trải qua nhiều biến đổi của thời cuộc, vẫn tồn tại trong đời sống nhân dân với những giá trị thiết thực và thiêng liêng. Khi tìm hiểu về ngày Tết này, cần nhìn nhận đầy đủ các lớp văn hóa và lịch sử đã hình thành nên nó.
Tuy nhiên, cần xóa bỏ quan niệm cho rằng Tết Đoan Ngọ của Việt Nam có nguồn gốc từ Tết Đoan Ngọ của Trung Quốc.
Lê Thái Dũng