Lời dạy của Đức Phật không nhằm thu hút những người còn nuôi dưỡng ảo tưởng về hạnh phúc và cái ngã.

Vai trò của nghiệp trong chuỗi nhân quả được nhấn mạnh qua lời dạy: "Do hành, thức tái sanh phát sinh." Điều này đã được Đức Phật giảng giải rất chi tiết.
Vì người sắp qua đời còn bị trói buộc vào những dấu hiệu và hình ảnh liên quan đến nghiệp nên các sắc pháp do nghiệp tạo thành sanh khởi. Chính sự dính mắc ấy trở thành duyên cho thức tái sanh.
Sự tiếp xúc với các đối tượng giác quan dẫn đến cảm thọ, rồi từ cảm thọ lại phát sinh tham ái. Dù là cảm giác dễ chịu hay khó chịu thì đều có thể tạo nên tham ái đối với các đối tượng khả ái.
Khi tham ái phát triển mạnh mẽ, nó sẽ dẫn con người đến sự chấp thủ. Trong lúc tạo các nghiệp thiện hay bất thiện, con người đều mong muốn những điều mình khao khát được thành tựu. Chính kammabhava (nghiệp hữu) bắt nguồn từ tham ái đã dẫn đến tái sanh.
Tái sanh luôn đi kèm với khổ đau, ở bất kỳ cảnh giới nào.
Không chỉ trong các cõi đọa xứ hay súc sanh mới có khổ. Ngay trong cõi người, đau khổ cũng là điều không thể tránh khỏi.
Con người phải lao động vất vả để mưu sinh, có thể bị chủ hoặc người khác quấy rối. Dù tránh được phần lớn những khó khăn của cuộc sống thì vẫn phải đối diện với già, bệnh và cái chết luôn cận kề.
Khổ đau bắt đầu ngay từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ. Từ lúc thụ thai, già, bệnh và chết đã trở thành điều không thể tránh khỏi. Dẫu sống trong cảnh vô ưu vô lo thì danh và sắc vẫn từng ngày suy yếu rồi già đi.
Một câu chuyện ngụ ngôn của Ấn Độ minh họa cho sự tất yếu của già, bệnh và chết như sau.
Có một người sợ tuổi già nên ngậm thuốc trường sinh trong miệng, bay lên hư không và đến thiên giới.
Một người khác lặn xuống đáy biển với hy vọng tránh khỏi bệnh tật.
Người thứ ba trốn vào một hang động trên dãy Himalaya để thoát khỏi cái chết.
Khi con cháu đi tìm, họ phát hiện người thứ nhất đã già yếu, người thứ hai mắc bệnh nan y và người thứ ba đã qua đời.
Mọi người đều phải chịu già, bệnh và chết. Một khi đã có sanh thì không gì có thể bảo vệ con người khỏi những điều bất hạnh ấy.
Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú:
"Không có nơi nào trên trời, trên đất hay dưới biển sâu mà con người có thể trốn khỏi cái chết."
Già, bệnh và chết là điều tất yếu khi còn tái sanh.
Tái sanh còn dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu và não.
Con người đau buồn khi người thân qua đời. Nỗi đau ấy càng lớn hơn khi mất cha mẹ, người nương tựa hoặc con trai, con gái mà mình hết mực yêu thương.
Một nguyên nhân khác gây đau khổ là mất mát tài sản do vua quan cưỡng đoạt, trộm cắp, hỏa hoạn, lũ lụt hoặc do những người thừa kế không xứng đáng.
Đau buồn còn làm suy giảm sức khỏe và kéo theo nhiều bệnh tật. Có người rơi vào trầm cảm đến mức tâm lý trở thành chướng ngại cho quá trình hồi phục.
Đối với các vị Tỳ-khưu và cư sĩ, bất cứ điều gì làm tổn hại giới hạnh đều khiến họ hối hận. Vì vậy, ẩn sĩ Isisiṅga đã phải chịu nỗi đau khủng khiếp khi bị một thiên nữ quyến rũ.
Sự lo lắng và hối hận cũng hành hạ những người từng chạy theo tà kiến do các tà sư truyền dạy.
Những bất hạnh như cướp bóc, thất nghiệp... cũng gây nên đau khổ, lo lắng và tuyệt vọng.
Do có tâm thức, con người luôn phải chịu đau khổ mỗi khi tiếp xúc với những đối tượng giác quan khó chịu. Sự tiếp xúc ấy chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa, khiến nỗi khổ càng tăng lên.
Đối với bậc A-la-hán và Bậc Bất-lai, do không còn sân tâm nên các ngài vẫn bình thản trước những đau đớn về thân.
Các thiền sinh thực hành chánh niệm cũng vậy. Do không còn nuôi dưỡng ảo tưởng về cái ngã nên không để tâm thương hại bản thân phát triển.
Vì thế, điều quan trọng trong lời dạy của Đức Phật là thiền sinh phải luôn quán chiếu và ghi nhận những cảm giác khó chịu ngay khi chúng vừa sanh khởi.
Con người cảm thấy bất an khi thất vọng hoặc nghĩ đến những điều bất hạnh đã xảy ra trong quá khứ, đang diễn ra ở hiện tại hay sẽ đến trong tương lai.
Họ cảm thấy cay đắng khi phải đối diện với nghịch cảnh và gánh chịu nhiều đau khổ.
Tất cả những nỗi khổ ấy đều phát sinh vì có sanh.
Cuộc sống này là khổ và vô ngã. Không có hạnh phúc hay niềm vui nào tồn tại mãi mãi, cũng không có một cái ngã thật sự để hưởng thụ những điều ấy.
Theo giáo lý Pháp duyên khởi, điều duy nhất liên kết sự hiện hữu này với sự hiện hữu khác chính là nhân và quả.
Từ tham ái, nghiệp lực... dựa trên vô minh làm phát sinh năm quả là: thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ.
Những quả này bắt đầu từ sanh và kết thúc bằng chết, kéo theo già, lo lắng và muôn vàn khổ đau ở khoảng giữa.
Tánh vô ngã và khổ đau là chân lý không thể phủ nhận, ngay cả các vị trời cũng không thể vượt khỏi.
Một số chư thiên vẫn phải đấu tranh để sinh tồn, cuộc sống còn khốn khổ hơn cả loài người. Họ được gọi là chư thiên đọa xứ (Vinipātika), quỷ thần...
Một số chư thiên ở cõi trời cũng không cảm thấy mãn nguyện vì không có cung điện nguy nga hoặc thiếu người hầu cận.
Ngay cả Thiên chủ Đế Thích (Sakka), vua của chư thiên, cũng từng thừa nhận với Trưởng lão Mahākassapa rằng vì ông tạo nhiều phước thiện trong thời không có Phật giáo nên mỗi khi có một vị Thiên tử tạo phước trong thời có Phật giáo xuất hiện, ông đều phải tránh lui.
Do đó, Thiên chủ Sakka không phải lúc nào cũng vui vẻ. Những thiên nữ hầu cận cũng từng bày tỏ với Trưởng lão Mahākassapa rằng họ rất đau khổ vì không được tôn xưng là các Thiên hậu.
Một số chư thiên trở nên đau buồn khi cái chết cận kề. Cái chết của họ được báo trước bằng những dấu hiệu như thiên hoa héo úa, mồ hôi chảy nơi nách, sắc thân nhợt nhạt, thiên y phai màu và tâm sanh chán cõi trời.
Một số chư thiên khác chết đột ngột ngay giữa lúc đang đắm chìm trong lạc thú thiên giới, giống như con người đột tử. Cái chết diễn ra chỉ trong khoảnh khắc, như một ngọn nến bị dập tắt.
Nguồn: Giảng giải Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) – Mahāsi Sayādaw.
Soạn dịch: Dharma Pālaka.