Người Phật Tử
  • Trang chủ
  • Tin tức
    • Miền Bắc
    • Miền Trung
    • Miền Nam
    • Xã hội - Tâm linh
    • Quốc tế
    • Vesak
    • Thông báo
  • Tu học
    • Thiền tông
    • Tịnh độ
    • Mật tông
    • Luận đàm - Giảng kinh
    • Tìm hiểu - Vấn đáp
    • Tuổi trẻ - Nhật ký
  • Hoằng pháp
    • Giới thiệu kinh - sách
    • Nghi lễ tổng hợp
    • Hoằng pháp
  • Phật pháp
    • Ngày truyền thống PG
    • Nhân vật
    • Đời sống
    • Khoa học
    • Giáo dục
    • Sự kiện - Vấn đề
    • Phật sử-Tưởng niệm
  • Văn hóa
    • Xuân
    • Ý kiến - Trao đổi - Dư luận
    • Văn học - Tùy bút
    • Giáo dục - Nhân vật - Cộng đồng
    • Tác phẩm - Nghệ thuật - Đồ hoạ
  • Thư viện
    • Thơ -Truyện- Sách
    • Phim-Nhạc Phật
    • Bài giảng - Kinh
    • Phật giáo Việt Nam
  • Cộng đồng
    • Ấn tống - Cúng dường
    • Cần giúp đỡ
    • Gương điển hình
    • Tin tức
  • Đời sống
    • Sức khỏe
    • Thực phẩm - Thức uống
    • Ẩm thực chay
    • Lời Phật dạy
  • Tự viện
    • Miền bắc
    • Miền trung
    • Miền nam
    • Quốc tế
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu
  1. Trang chủ
  2. Luận đàm - Giảng kinh
  3. Nhân Duyên

Nhân Duyên

Tác giả Hồng Lam
08:30 | 28/08/2011 0 bình luận
Thích Facebook Zalo X Linkedin Whatsapp Pinterest Email Print

Tóm tắt bài viết

  • Trong Mãdhyamaka Sãstra (Trung Quán Luận) của Ngài Nãgãrjuna (Long Thọ) phẩm Quán về Nhân Duyên có 16 bài tụng bàn luận về Nhân Duyên .
📖 MỤC LỤC BÀI VIẾT
Ẩn / Hiện

    Vì đương thời có nhiều thuyết cho rằng  Vạn Vật từ trời Ðại Tự Tại sinh, từ trời Vĩ Nữu sinh, từ sự Hòa Hợp sinh, từ Thời Sinh ,  từ Thế Tính sinh, từ Biến Hóa sinh, từ Tự Nhiên sinh,  từ Vi Trần sinh v.v… Vì có những kiến chấp sai lầm bị rơi vào vòng tà kiến , chấp : vô nhân, tà nhân, đoạn, thường v.v… và chấp : ngã, ngã sở; do đó không thể thấu hiểu chánh pháp .

    Ðức Phật muốn đoạn trừ tất cả những tà kiến nên đối với hàng Thanh Văn Ngài đã giảng dạy 12 Nhân Duyên . Sau đó để dẫn dắt lên bậc cao hơn Phật mới giảng dạy Pháp Ðại Thừa nói rõ thật tướng của Pháp Nhân Duyên  là  “tất cả pháp chẵng sinh chẵng diệt, chẵng một chẵng khác, chẵng thường, chẵng đoạn v.v… rốt ráo không .

    Trong kinh Bát Nhã Ba La Mật  Phật bảo ông Tu Bồ Ðề rằng :  “Bồ Tát khi ngồi ở Ðạo Tràng, quán 12 nhân duyên như hư không, không thể cùng tận…” .

    Năm trăm năm sau Phật nhập diệt , vào thời Tượng Pháp , con người không hiểu thâm ý trong lời Phật dạy , chấp vào văn tự, nghe trong kinh điển Ðại Thừa nói : “nghĩa rốt ráo” nhưng chẵng thấu rõ nghĩa, không biết vì nhân duyên gì mà Phật nói Tánh Không, sinh tâm nghi ngờ kiến chấp : “Nếu tất cả rốt ráo không thời làm sao phân biệt có tội phước báo ứng; và như vậy sẽ không có thế đế, và đệ nhất nghĩa đế?” .

    Vì để giải rõ lý duyên khởi nên ngài Long Thọ viết 16 bài tụng như sau  (Do ngài Cưu Ma La Thập dịch từ tiếng Phạn ra Hán văn, Như Tạng dịch ra tiếng Việt) :     

    1.   Không sinh cũng không diệt,

    Không thường cũng không đoạn

    Không một cũng không khác

    Không đến cũng không đi.

    (Bất sinh diệt bất diệt, bất thường diệt bất đoạn

    Bất nhứt diệt bất dị, bất lai diệt bất xuất)

    2.  Khéo nói  nhân duyên ấy

    Hay diệt  những hí luận

    Ðệ nhất trong các thuyết

    Con cúi đầu  lễ Phật

    (Năng thuyết thị nhân duyên, thiện diệt chư hí luận

    Ngã khể thủ lễ Phật, chư thuyết trung đệ nhất)

    Hai bài tụng trên tổng thể tóm kết 8 pháp : không sinh, không diệt; không thường, không đoạn;  không một , không khác;  không đến, không đi .

    Mặc dù Pháp có vô lượng nhưng 8 món đó đủ tổng phá hết thảy Pháp để tìm hiểu  về Tánh Không.

    Nói về tướng Sinh có nhiều thuyết rất khác nhau như : nhân và quả một thể; nhân và quả khác thể; hoặc là nói trong nhân trước có quả; hoặc nói trong nhân trước không có quả;  hoặc cho là quả chính tự thể sinh; hoặc cho là do cái khác sinh;  hoặc do tự và tha cọng sinh; hoặc cho là tự nhiên sinh không có nguyên nhân v.v… Tất cả những thuyết ấy đều phiến diện , không đúng nên tướng sinh không thể tự có do đó gọi là Không Sinh . 

    Ðã không Sinh thì không có cái gì để diệt. Vì không sinh diệt nên sáu món còn lại không tồn tại .

    Nếu đi sâu vào nghĩa chẵng thường , chẵng đoạn thì ta sẽ trỡ lại giống như chẵng sinh , chẵng diệt . Vì  nếu các pháp có thật tức là không thể không có. Trước có mà nay không tức là Ðoạn. Nếu trước sẵn có Tính tức là Thường. Do đó chẵng thường , chẵng đoạn đồng nghĩa với chẵng sinh chẵng diệt .

    Bốn món còn lại là chẵng một chẵng khác; chẵng đến chẵng đi thì thế nào ?  Nếu nhân và quả nhất thể thì không có tương tục. Nhất thể thì trước sau như một, đâu phải tương tục từ nhân tới quả .

    Chẵng một, chẵng khác ?  Mầm nảy sinh  từ hạt lúa nhưng mầm không phải là hạt lúa. Hai vật đó không phải một nhưng cũng không phải khác.  Ðó là thí dụ điển hình cho tướng trạng của các pháp .

    Chẵng đến , chẵng đi ? Mầm trong hạt lúa không thấy từ đâu đến , vì nó đã có sẵn trong hạt lúa nên nói không đến .

    Không đi  vì mầm ấy sinh ra từ hạt lúa và phát triễn thành cây lúa , không có hiện tượng mầm tách rời hạt để di động đi nơi khác nên gọi là không đi .  Những điều đó tượng trưng cho tướng trạng của các pháp  không đến, không đi.

    Trường hợp nầy trở lại hai trường hợp ban đầu là vì các pháp không sinh nên không có gì để diệt mất và do đó 6 món còn lại tự nhiên không tồn tại nữa, trở về tánh không của đệ nhất nghĩa đế mà Ngài Long Thọ muốn nói đến.


    3.  Các pháp không tự sinh

    Cũng không sinh từ cái khác

    Không cọng sinh,  không vô nhân sinh

    Do đó nên hiểu rằng , các pháp vốn vô sinh

    (Chư pháp bất tự sanh, diệt bất tùng tha sanh

    Bất cọng bất vô nhân, thị cố tri vô sanh)


    Các pháp không sinh ra từ chính nó nghĩa là phải hội đủ nhân duyên mới sinh khởi ra được. Nếu pháp tự chính nó sinh ra tức là một pháp có hai cá thể : sở sinh và năng sinh . Và các pháp nếu không cần nhân duyên mà sinh thì như thế nó cứ tự sinh sinh mãi không hợp với luật nhân quả . Ví dụ hạt lúa cứ để nơi khô ráo mãi thì tự nó không thể nảy mầm được . Muốn cho hạt lúa nãy mầm phải ngâm nước một thời gian cần thiết và rồi phải gieo xuống đất một thời gian cần thiết nó mới nãy mầm . Như thế nếu bảo là tự sinh mà không có các nhân duyên hợp thành tức là trái với luật nhân quả .

    Không sinh ra từ cái khác ? Ví dụ hạt cam không thể sinh ra cây lúa .

    Hạt lúa trộn với hạt cam và cứ thế để nơi khô ráo mãi cũng không thể nẫy mầm thành cây lúa được vì thiếu các nhân duyên sinh . Do đó không phải tự nó hoặc cọng với cái khác mà sinh ra được.

    Nếu các pháp tự nhiên sinh tức là không nhân mà lại có quả . Chẵng khác nào có người vì muốn có quít để ăn mà hằng ngày cứ ngồi chờ trên tảng đá mọc ra cây quít thì than ôi có bao giờ có được !

    Ngài Long Thọ nói các pháp vốn vô sinh nghĩa là trỡ về cái tánh không của các pháp, pháp vốn không có thì làm gì có Sinh với vô sinh.


    4.  Như tự tánh các pháp

    Không tại nơi trong duyên

    Vốn dĩ không  tự tánh

    Tha tánh  lại cũng không

    (Như chư pháp tự tánh, bất tại ư duyên trung

    Dĩ vô tự tánh cố, tha tánh diệt phục vô)

    Tự tính các pháp chính là Tự Thể của các pháp. Vì các duyên hòa hợp sinh ra các pháp nên nếu các duyên tan rã thì các pháp mất do đó các pháp không có tự tính cá biệt . Tự tính không ở trong các duyên . Ví dụ vật chất được các nguyên tử kết hợp thành phân tử , nhiều phân tử kết hợp lại thành một vật nào đó . Ðó là những chuổi dài các duyên hòa hợp sinh ra . Nếu phá vỡ nguyên tử đi thì vật ấy bị hoại diệt . Như thế là vật ấy không có tự tính cá biệt gì cả chỉ do các duyên hòa hợp mà sinh ra . Vì không có tự tính nên tha tính hẵn là không có . 

    Vì tự sinh, tha sinh, cọng sinh, vô nhân sinh không có tướng sinh nên gọi là vô sinh.

    5.  Nhân Duyên, Thứ Ðệ Duyên

    Sở Duyên Duyên, Tăng Thượng Duyên

    Bốn Duyên sinh các Pháp

    Không còn Duyên thứ năm.

    (Nhân duyên thứ đệ duyên,  duyên duyên tăng thượng duyên

    Tứ duyên sanh chư pháp, Cánh vô đệ ngủ duyên)

    Nói về duyên thì có rất nhiều nhưng tổng thể đều gôm vào 4 duyên kể trên. Do bốn duyên hòa hợp mà sinh ra các pháp .

    Nhân Duyên là chỉ cho các pháp hửu vi. Thứ Ðệ Duyên là chỉ cho tâm tâm số pháp quá khứ hiện tại, trừ tâm tâm số pháp tối hậu của vị A La Hán quá khứ, hiện tại . Sở Duyên Duyên và Tăng Thượng Duyên là chỉ cho tất cả các pháp .

    6.  Quả là từ duyên sinh

    Hay là từ phi duyên sinh

    Trong duyên ấy là có quả

    Hay trong duyên ấy là không có quả

    (Quả vi tùng duyên sanh, vi tùng phi duyên sanh

    Thị duyên vi hửu quả , thị duyên vi vô quả )

    7.  Nhân pháp ấy sinh quả

    Pháp ấy gọi là Duyên

    Nếu quả ấy chưa sinh

    Sao không gọi là Phi Duyên

    (Nhân thị pháp sinh quả, thị pháp danh vi duyên

    Nhược thị quả vị sanh, hà bất danh phi duyên)

    Ví dụ cái bánh mì . Khi thấy bánh mì ta biết do nước và bột nhồi lại rồi nướng lên mà thành bánh  mì. Bánh mì là quả . Nhờ thấy quả mà biết được bột và nước là duyên của nó. Như thế khi chưa có bánh mì sao không gọi bột, nước là phi duyên .

    8.  Quả, trước có trong duyên ?

    Có,  không đều không thể

    Nếu trước không có quả, thì duyên ấy làm duyên cho cái gì  ?

    Nếu trước đã có quả thì cần gì phải có duyên?

    (Quả tiên ư duyên trung,  hửu vô câu bất khả

    Tiên vô vi thùy duyên, tiên hửu hà dụng duyên)

    9.  Nếu quả không  hửu sinh

    Lại cũng không  vô sinh

    Cũng không  hửu vô sinh

    Sao có thể nói là  hửu duyên

    (Nhược quả phi hửu sanh, diệt phục phi vô sanh

    Diệt phi hửu vô sanh, hà đắc ngôn hửu duyên)

    Ðức Phật thường đã dạy các Pháp do nhân duyên sinh nhưng tại sao đây lại phủ nhận nhân duyên sinh ?

    Ðức Phật dạy Pháp do nhân duyên sinh là mục đích chỉ rõ các pháp vốn không có thực thể , không có thật ngã độc lập ngoài các duyên. Không phải do nhân duyên sinh ra cái gì khác nó, riêng biệt ngoài nó mà quả chỉ hiện có giả tạm trên các duyên. Do đó nói pháp do duyên sinh nhưng thật ra không sinh ra cái gì thật có độc lập. Nếu nhân duyên sinh ra cái gì đó độc lập với nó tức là hửu ngã chứ không phải duyên sinh vô ngã.

    Nhưng pháp đã do duyên sinh thì phải là vô ngã chứ không thể hửu ngã. Như thế là duyên không sinh ra cái gì khác nó nên gọi là không có nhân duyên sinh, theo như ngài Long Thọ đã nói .

    10.  Nếu khi quả chưa sanh

    Ắc không thể có diệt

    Pháp hoại diệt thì còn có thể làm duyên cho cái gì được?

    Do đó không có thứ đệ duyên

    (Quả nhược vị sanh thời, tắc bất ưng hửu diệt

    Diệt pháp hà năng duyên,  cố vô thứ đệ duyên)

    Các pháp  hiện tại  không lúc nào an trụ , nếu không an trụ thời không thể làm duyên thứ đệ. Nếu an trụ thời nó không phải là pháp hửu vi . Vì tất cả pháp hửu vi thường có tướng hoại diệt. Nếu diệt rồi thời không thể làm duyên thứ đệ.

    Phật dạy hết thảy pháp hửu vi niệm niệm diệt, không có một giây phút ngừng trụ, vậy làm sao nói pháp hiện tại có một phần sắp diệt, một phần chưa sắp diệt. Trong luận A Tỳ Ðạt Ma nói có pháp sắp diệt, có pháp chưa sắp diệt . Pháp sắp diệt là pháp hiện tại ,  sắp muốn diệt. Pháp chưa sắp diệt là chỉ tất cả pháp hiện tại khác và pháp quá khứ , vị lai, pháp vô vi, trừ pháp hiện tại sắp diệt. Ðó gọi là pháp chưa sắp diệt.

    Do đó nên không có thứ đệ duyên.

    11.  Như chư Phật đã dạy

    Pháp chơn thật vi diệu

    Ðó là pháp không duyên

    Thì làm gì có sở duyên duyên

    (Như chư Phật sở thuyết, Chơn thật vi diệu pháp

    Ư thử vô duyên pháp,  vân hà hửu duyên duyên)

    Ðức Phật dạy các pháp , theo Ðại Thừa, rằng tất cả các pháp hoặc có sắc không sắc , có hình không hình , hửu lậu vô lậu, hử vi vô vi, khi nhập vào pháp tính thời tất cả đều không. Vô tướng, vô duyên ví như muôn sông chảy vào biển, hòa đồng một vị, đó là thật pháp đáng tin. Còn các pháp Ðức Phật nói ra để thích ứng với căn cơ , đó là những phương tiện truyền dạy các pháp không thể xem là thật .

    Do đó không có Sở Duyên Duyên.

    12.  Chư pháp không có tự tánh

    Nên không có  thật tướng

    Nếu nói vì  việc nầy có

    Nên việc kia có là không hiển nhiên

    (Chư pháp vô tự tánh,  cố vô hửu hửu tướng

    Thuyết hửu thị sự cố,  thị sự hửu bất nhiên)


    Bài tụng nầy muốn phá chấp về Tăng Thượng Duyên.

    Vì các pháp từ các duyên sinh , tự nó không có tự tính nhất định nên không có thật tướng. Vì các pháp không có thật tướng  cho nên nếu nói vì việc nầy có nên việc kia có là không đúng . Hàng phàm phu phân biệt có và không nên Ðức Phật vì giáo hóa hàng phàm phu mà phải nói các duyên để phá trừ có và không .

    Khi nói về 12 nhân duyên Phật dạy do cái nầy có nên cái kia có, như có vô minh nên có hành, có hành nên có thức v.v…mục đích là để chỉ rõ lý duyên sinh của các pháp. Nói  vô minh có nên hành có không có nghĩa là vô minh và hành có thật. Vì vô minh và hành đều do duyên sinh . Tất cả các giai đoạn giảng giải về duyên sinh của các pháp đều là phương tiện để cuối cùng đưa về tính không của các pháp .

    13.  Trong nhân duyên rộng, hẹp

    Tìm quả không thể được

    Nếu trong nhân duyên không có

    Sao có thể gọi là từ duyên sinh

    (Lược quản nhân duyên trung, cầu quả bất khả đắc

    Nhân duyên trung nhược vô, Vân hà tùng duyên xuất)


    14.  Nếu nói duyên không quả

    Nhưng từ trong duyên sinh

    Quả ấy sao không từ

    Trong phi duyên mà ra

    (Nhược vị duyên vô quả,  Nhi tùng duyên trung xuất

    Thị quả hà bất tùng, phi duyên trung nhi xuất)


    15.  Nếu quả từ duyên sanh

    Nhưng duyên ấy không có tự tánh

    Từ vô tự tánh sinh

    Không thể được gọi là từ duyên sinh 

    (Nhược quả tùng duyên sanh,  thị duyên vô tự tánh

    Tùng vô tự tánh sanh, hà đắc tùng duyên sanh)


    16.  Quả không từ duyên sanh

    Không từ phi duyên sinh

    Quả vốn thật sự không 

    Duyên, phi duyên cũng đều không .

    (Quả bất tùng duyên sanh,  bất tùng phi duyên sanh

    Dĩ  quả vô hửu cố,  duyên phi duyên diệt vô)

    Ngài Long Thọ muốn tóm lược những lời Phật dạy trong các kinh điển. Lúc đầu đưa ra nhân duyên, 12 nhân duyên để giải thích sự tương quan sinh khởi của các pháp . Thế nhưng tóm lại tất cả pháp đều sinh diệt tương tục, không có tự tánh nên duyên, nhân duyên , phi duyên, nhân, quả,… đều không thật có.

    Dẹp mọi tà kiến hí luận như Ái Luận , tâm đắm nhiễm chấp thủ các pháp. Hoặc Kiến Luận, kiến giải sai lầm, như kiến chấp tà nhân luận, vô nhân luận v.v…

    Mục đích của bổn luận là đưa hành giả đến chánh quán, thật tướng, trung đạo, tiến đến giác ngộ giải thoát.  

      TS Lâm Như Tạng 

    🏷️ Chủ đề: #nhân duyên #tổ sư long thọ #nhân quả #duyên sinh #sở duyên duyên. #thứ đệ duyên. #tự tánh

    Viết bình luận

    Lưu ý : Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng.
    Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.

    TIN LIÊN QUAN

    Tứ Niệm Xứ và cách ứng dụng vào đời sống của người Phật tử

    Tứ Niệm Xứ và cách ứng dụng vào đời sống của người Phật tử

    Khái niệm 'Tự tánh' theo truyền thống Nikāya

    Khái niệm 'Tự tánh' theo truyền thống Nikāya

    Nghiệp thức và tần số

    Nghiệp thức và tần số

    Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya

    Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya

    Phật giáo Nguyên thủy nói gì về tụng kinh, cầu siêu và hồi hướng cho người đã khuất?

    Phật giáo Nguyên thủy nói gì về tụng kinh, cầu siêu và hồi hướng cho người đã khuất?

    Bốn nguồn gốc của sắc

    Bốn nguồn gốc của sắc

    Nghiệp thức và chuyển hóa

    Nghiệp thức và chuyển hóa

    Triết học Phật giáo Đại thừa: Biện chứng về tự tánh từ Tánh Không đến Chân Như

    Triết học Phật giáo Đại thừa: Biện chứng về tự tánh từ Tánh Không đến Chân Như

    Danh lợi như phù vân I 名利如浮雲

    Danh lợi như phù vân I 名利如浮雲

    Luận ngũ uẩn

    Luận ngũ uẩn

    Cứu độ vong linh trong giai đọan thân Trung Ấm

    Cứu độ vong linh trong giai đọan thân Trung Ấm

    Giới tâm người tu Phật

    Giới tâm người tu Phật

    Bài viết xem nhiều

    Tháng Bảy vu lan về…

    Tháng Bảy vu lan về…

    Tạp bút về Mẹ mùa vu lan 2022

    Tạp bút về Mẹ mùa vu lan 2022

    Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya

    Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya

    Hà Tĩnh: Sẵn sàng cho Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh lần thứ V nhiệm kỳ 2026 - 2031

    Hà Tĩnh: Sẵn sàng cho Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh lần thứ V nhiệm kỳ 2026 - 2031

    Hòa thượng thiền sư Kim Triệu

    Hòa thượng thiền sư Kim Triệu

    Hà Tĩnh: Ban Trị sự GHPGVN tỉnh dâng hương bạch Phật, bạch Tổ và tri ân các Anh hùng Liệt sĩ trước thềm Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh

    Hà Tĩnh: Ban Trị sự GHPGVN tỉnh dâng hương bạch Phật, bạch Tổ và tri ân các Anh hùng Liệt sĩ trước thềm Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh

    Chè xanh góp phần giảm axit uric cho người bị gút

    Chè xanh góp phần giảm axit uric cho người bị gút

    Hà Nội: Lễ khởi công xây dựng Trung tâm văn hóa Phật giáo Thủ đô

    Hà Nội: Lễ khởi công xây dựng Trung tâm văn hóa Phật giáo Thủ đô

    • Tin tức
    • Miền Bắc
    • Miền Trung
    • Miền Nam
    • Quốc tế
    • Vesak
    • Xã hội - Tâm linh
    • Thông báo
    • Tu học
    • Tuổi trẻ - Nhật ký
    • Thiền tông
    • Tịnh độ
    • Mật tông
    • Tìm hiểu - Vấn đáp
    • Luận đàm - Giảng kinh
    • Phật pháp
    • Sự kiện - Vấn đề
    • Giáo dục
    • Khoa học
    • Đời sống
    • Nhân vật
    • Nghi lễ
    • Nghi lễ tổng hợp
    • Thư viện
    • Phật giáo Việt Nam
    • Bài giảng - Kinh
    • Phim-Nhạc Phật
    • Thơ -Truyện- Sách
    • Văn hóa
    • Phật sử-Tưởng niệm
    • Ngày truyền thống PG
    • Tác phẩm - Nghệ thuật - Đồ hoạ
    • Giáo dục - Nhân vật - Cộng đồng
    • Văn học - Tùy bút
    • Ý kiến - Trao đổi - Dư luận
    • Xuân
    • Hoằng pháp
    • Giới thiệu kinh - sách
    • Hoằng pháp
    • Tự viện
    • Miền bắc
    • Miền trung
    • Miền nam
    • Quốc tế
    • Ẩm thực
    • Lời Phật dạy
    • Tin tức - Ẩm thực chay
    • Thực phẩm - Thức uống
    • Từ thiện
    • Tin tức
    • Gương điển hình
    • Cần giúp đỡ
    • Trang chủ
    • Giới thiệu
    • Facebook
    • Youtube
    • Twitter
    • Copyright NGUOIPHATTU.VN
    Thời gian truy vấn : 0.1093748 s
    Trang chủ Chuyên mục Pháp âm Tìm kiếm Lên đầu