Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành một pháp rồi, liền có danh dự, thành

tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Đó là niệm Phật.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Thế nào là tu hành niệm Phật, liền có danh dự, thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc rễ của Pháp do Thế Tôn nói.1
Nguyện xin Thế Tôn vì các Tỳ-kheo nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe từ Như Lai rồi sẽ thọ trì.”
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt rộng rãi cho các ngươi.”
Các Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn.”
Sau khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, chuyên tinh niệm Phật, không có niệm tưởng nào khác. Quán hình của Như Lai, mắt không hề rời, trong khi mắt không rời, niệm tưởng công đức Như Lai.
“Thể của Như Lai được thành tựu từ kim cương, đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy, dõng mãnh giữa đại chúng. Gương mặt của Như Lai đoan chánh vô song, nhìn không chán mắt.
Giới đức thành tựu giống như kim cương không thể phá hoại, trong sạch không tỳ vết cũng như lưu ly. Tam-muội của Như Lai chưa từng sút giảm, đã tĩnh chỉ, vĩnh viễn tịch tĩnh, không có niệm khác. Các thứ tình kiêu mạn, ngang bướng đã vắng im, ý tham dục, tưởng sân hận, tâm ngu hoặc, mạn kết2 do dự, tất đều tận trừ.
Huệ thân của Như Lai, trí không bờ đáy, không bị chướng ngại. [554b01] Thân Như Lai, được thành tựu từ giải thoát, các cõi3 đã hết, không còn sinh phần để nói ‘Ta sẽ đọa nơi sinh tử.’ Thân Như Lai được vượt qua thành trì của tri kiến, biết căn cơ người khác đáng được độ hay không đáng được độ, chết đây sinh kia, xoay vần qua lại trong ngằn mé sinh tử, có người giải thoát, người không giải thoát; Như Lai thảy đều biết tất cả.
“Đó là tu hành niệm Phật, liền có danh dự, thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn.
Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn phải tư duy không rời niệm Phật, liền sẽ được những thứ công đức thiện này. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
(Kinh số 1, Phẩm Quảng Diễn thứ ba, Kinh Tăng Nhất A Hàm)
Từ nội dung trên, có thể thấy pháp niệm Phật được trình bày với trọng tâm là chuyên tâm tưởng niệm và quán sát những công đức, phẩm chất của Như Lai. Người tu hướng tâm về Đức Phật, ghi nhớ và suy niệm về giới đức, thiền định, trí tuệ, giải thoát cùng những phẩm chất giác ngộ được kinh văn mô tả.
Đoạn kinh này là một tư liệu quan trọng để người học Phật tìm hiểu cách thực hành niệm Phật trong hệ thống Kinh Tăng Nhất A Hàm. Việc nghiên cứu kinh điển cần dựa trên văn bản, đối chiếu với các nguồn kinh điển liên quan và giữ tinh thần khách quan, thận trọng.
Trong quá trình học và hành Phật pháp, mỗi người có thể tìm hiểu các phương pháp tu tập được truyền dạy trong những truyền thống khác nhau. Điều quan trọng là không nên vội vàng kết luận hoặc phủ nhận một pháp môn chỉ dựa trên cảm nhận, hiện tượng cá nhân hay một vài trường hợp riêng lẻ.
Đức Phật dạy với tinh thần “đến để mà thấy”, khuyến khích người học tự mình tìm hiểu, quan sát và thực hành để nhận biết giá trị của giáo pháp. Việc học Phật vì vậy cần có sự suy xét, đối chiếu với kinh điển và trải nghiệm tu tập, thay vì tin tưởng tuyệt đối chỉ vì truyền thống, số đông hay uy tín của bất kỳ cá nhân nào.
Có thể hiểu rằng, tinh thần tìm hiểu Chánh pháp cần đi cùng sự tỉnh táo, khách quan và thái độ tôn trọng. Khi có những quan điểm khác nhau về cách giải thích hoặc thực hành một pháp môn, người học Phật nên trở về với kinh điển, nghiên cứu nhiều nguồn tư liệu và tự mình suy nghiệm trên nền tảng Chánh kiến.
Qua đoạn Kinh Tăng Nhất A Hàm được trích dẫn, niệm Phật được trình bày như sự chuyên tâm tưởng niệm, quán sát và ghi nhớ những công đức của Như Lai.