Người Phật Tử
  • Trang chủ
  • Tin tức
    • Miền Bắc
    • Miền Trung
    • Miền Nam
    • Xã hội - Tâm linh
    • Quốc tế
    • Vesak
    • Thông báo
  • Tu học
    • Thiền tông
    • Tịnh độ
    • Mật tông
    • Luận đàm - Giảng kinh
    • Tìm hiểu - Vấn đáp
    • Tuổi trẻ - Nhật ký
  • Hoằng pháp
    • Giới thiệu kinh - sách
    • Nghi lễ tổng hợp
    • Hoằng pháp
  • Phật pháp
    • Ngày truyền thống PG
    • Nhân vật
    • Đời sống
    • Khoa học
    • Giáo dục
    • Sự kiện - Vấn đề
    • Phật sử-Tưởng niệm
  • Văn hóa
    • Xuân
    • Ý kiến - Trao đổi - Dư luận
    • Văn học - Tùy bút
    • Giáo dục - Nhân vật - Cộng đồng
    • Tác phẩm - Nghệ thuật - Đồ hoạ
  • Thư viện
    • Thơ -Truyện- Sách
    • Phim-Nhạc Phật
    • Bài giảng - Kinh
    • Phật giáo Việt Nam
  • Cộng đồng
    • Ấn tống - Cúng dường
    • Cần giúp đỡ
    • Gương điển hình
    • Tin tức
  • Đời sống
    • Sức khỏe
    • Thực phẩm - Thức uống
    • Ẩm thực chay
    • Lời Phật dạy
  • Tự viện
    • Miền bắc
    • Miền trung
    • Miền nam
    • Quốc tế
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu
  1. Trang chủ
  2. Luận đàm - Giảng kinh
  3. Tư tưởng của Đức Phật đã được người sau biến đổi như thế nào?

Tư tưởng của Đức Phật đã được người sau biến đổi như thế nào?

Tác giả Hoang Phong
04:59 | 17/06/2014 0 bình luận
Thích Facebook Zalo X Linkedin Whatsapp Pinterest Email Print

Tóm tắt bài viết

  • Các bài thuyết giảng của Đấng Giác Ngộ lưu lại sau khi Ngài tịch diệt đã được người sau bình giải, thêm thắt và mang ra ứng dụng vào mọi hoàn cảnh. Và cũng từ đó đã phát sinh ra Phật giáo Nguyên thủy (Theravada), Phật giáo Đại thừa (Mahayana) và Phật giáo Tantra thừa (Vajrayana).
📖 MỤC LỤC BÀI VIẾT
Ẩn / Hiện

    Lời giới thiệu của người dịch: Tất cả mọi hiện tượng đều biến động và đổi thay, đó là quy luật của vô thường. Giáo lý của Đức Phật cũng không tránh khỏi quy luật ấy. Sự diễn đạt và bình giải của con người có thể đã góp phần giúp cho Đạo Pháp phong phú hơn nhưng đồng thời cũng mang lai lắm điều phức tạp hơn. Bài được chuyển ngữ dưới đây tuy sơ lược nhưng cũng có thể mang lại cho chúng ta một tầm nhìn bao quát hơn về con đường Đạo Pháp. Thật vậy, tu tập cũng cần biết mình đang tu tập cái gì và đang bám víu vào những cành lá nào đang vươn ra từ gốc cây Phật Pháp. Bài viết được đăng trong một số ngoại lệ của tạp chí Le Point của Pháp (số 5, tháng 2 và 3, năm 2010) với chuyên đề là Đức Phật. Tác giả là ông Philippe Cornu, hiện là viện trưởng đại học Phật giáo Âu châu,(Hoang Phong).

    Tạp chí Le Point số ngoại lệ 5, tháng 2 và 3, năm 2010 Đức Phật thuyết giảng lần đầu tiên ở vườn Lộc Uyển (Chạm nổi trên đá, thế kỷ thứ I-II?, Pakistan)
    Đức Phật đã thuyết giảng trong gần bốn mươi năm liên tiếp và đã lưu lại trên đường hoằng pháp của Ngài một số bài giảng thật lớn. Những lời giáo huấn của Đức Phật được các đệ tử gom góp và truyền khẩu cho nhau. Những lời giáo huấn ấy mang nhiều thể dạng khác nhau: có những bài giảng mang tính cách khái quát nhưng cũng có những bài giảng là những lời khuyên bảo, có những bài giảng dựa vào bối cảnh chung quanh nhưng cũng có những bài
    giảng hàm chứa nhiều triết thuyết thật thâm sâu. Bảng liệt kê các bài giảng nguyên thủy của
    Đức Phật được gọi là matrika (tiếng Phạn matrika có nghĩa là mẹ, chữ matrix trong tiếng La tinh là một
    chữ vay mượn từ tiếng Phạn và cũng có nghĩa là mẹ, chuyển sang tiếng Pháp ngày nay là matrice và tiếng Anh là
    matrix) và từ đó phát xuất ra các tập abhidharma đầu tiên (Abhidharma dịch âm là A-tì-đạt-ma, hoặc
    dịch nghĩa là Thắng Pháp hay Luận tạng, tức Tạng thứ ba trong Tam tạng kinh điển), đó là những tập bình
    giải và hệ thống hóa giáo lý của Đức Phật. Tuy nhiên sự phân tán của tăng đoàn trong khắp
    bốn miền của bán lục đia Ấn độ cũng như các cách bình giải thật đa dạng đã tạo ra nhiều sự
    khác biệt. Những bất đồng chính kiến đó đã bùng ra trong một hội nghị gọi là "Kết tập Đạo
    Pháp" được tổ chức vào năm 386 trước Tây lịch.

    tu_tuong.gif

    Có hai nhóm được hình thành sau hội nghị "Kết tập" đó : một nhóm là Đại chủng bộ
    (Mahasanghika), có nghĩa là "Đại hội đồng". Nhóm này nắm ưu thế và chủ trương cần phải
    xác định trở lại tính cách Thánh thiện (arya) của vị A-la-hán, với ý nghĩa là một vị hiền nhân
    đã được giải thoát khỏi chu kỳ luân hồi. Nhóm thứ hai là Trưởng lão bộ (Sthaviravada) là
    nhóm của những "Người xưa", thì lại giữ một vị thế bảo thủ và khắt khe hơn, tiếp tục chủ
    trương vị thế siêu nhiên của vị A-la-hán. Sau đó, dưới triều đại của hoàng đế Maurya Ashoka
    (vua A-dục) một hội nghị thứ hai đã được tổ chức (vào khoảng năm 250 trước Tây lịch) tại kinh
    đô Hoa-thị-thành (Pataliputra), và tại hội nghị này Trưởng lão bộ đã được tách ra thành ba
    nhóm riêng biệt : nhóm Phân biệt bộ (Vibhajyavada), nhóm này về sau đã khai sinh ra Phật
    giáo Nguyên thủy (Theravada) của Tích Lan, nhóm thứ hai là Chánh lượng bộ (Sammitiya),
    và nhóm thứ ba là Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada). Tóm lại ba nhóm trên đây cộng thêm với
    nhóm Đại chủng bộ đã tạo ra bốn trào lưu chính yếu và từ đó đã đưa đến sự thành hình của
    mười tám học phái Phật giáo trong thời kỳ sơ khai.

     

    Các quan điểm liên quan đến Đức Phật

    Các quan điểm ấy là gì? Học phái Đại chủng bộ xem chư Phật là những chúng sinh
    ngoại lệ vượt lên trên những con người thường tình trong thế giới này và cho rằng sự hiển
    hiện kỳ diệu của Đức Phật lịch sử là một bằng chứng cho thấy sự Giác ngộ có thể thực hiện
    được. Trái lại học phái Phân biệt bộ xem Đức Phật lịch sử là một chúng sinh như những
    chúng sinh khác nhưng đã đạt được Giác ngộ, và xem vị A-la-hán thật sự đã đạt được giải
    thoát hoàn toàn. Học phái này còn cho là mọi hiện tượng thông thường chỉ có tính cách nhất
    thời và tuyệt đối không hàm chứa một bản thể tự tại nào, và xác định niết bàn là một thể dạng
    duy nhất phi điều kiện (đạt được niết bàn có nghĩa là đạt được sự tư do đích thực và tuyệt đối, không còn bị
    trói buộc trong bất cứ một điều kiện nào nữa). Học phái Nhất thiết hữu bộ thì lại chủ trương xu hướng
    tin tưởng vững chắc vào hiện thực và cho rằng các hiện tượng vật chất được tạo ra bởi sự kết
    hợp thật sâu kín của các nguyên tử. Đối với học phái này thì mọi vật thể đều có một sự hiện
    hữu trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Các vị chủ trương học phái này rất uyên bác, với tư
    cách là những học giả họ đứng ra phân loại lại toàn bộ các thành phần giáo lý, nhưng vì quá
    chú trọng vào việc sắp xếp để tạo ra sự mạch lạc nên họ không ngờ là đã làm cho nền giáo lý
    nguyên thủy trở nên phức tạp hơn. Sau hết là học phái Chánh lượng bộ còn gọi là học phái
    của những "Người chủ trương nhân cách chủ nghĩa". Gọi như vậy bởi vì họ bị ám ảnh quá
    mức bởi vấn đề tiếp nối liên tục của một cá thể con người: họ bám víu vào khái niệm về một
    "con người" (pudgala) chuyển tiếp từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, dù rằng họ không
    tin vào một linh hồn bất diệt. Dầu sao thì học phái này cũng đã bị lên án vì vi phạm vào thuyết
    vô ngã mà tất cả các học phái khác đều chấp nhận. Tuy nhiên học phái này vẫn được nhiều
    người theo và tiếp tục tồn tại cho đến thế kỷ thứ VII. Tuy rằng sự diễn đạt về giáo lý có mang
    tính cách đa dạng như đã được trình bày trên đây nhưng tuyệt nhiên không thể cho đấy là một
    sự ly giáo (tách rời thành những giáo phái đối nghịch nhau). Lý do là vì các học phái chỉ tranh luận
    với nhau mà thôi, trên thực tế thì các trào lưu trên đây đều sinh hoạt chung với nhau, tu tập
    chung trong một tu viện, và tất cả đều tôn trọng những giới luật như nhau. Tuy nhiên vào thế
    kỷ thứ I, người ta vẫn thấy xuất hiện một số văn bản báo hiệu một trào lưu tư tưởng mới là
    Đại thừa (Mahayana), còn gọi là "Cỗ xe lớn". Trào lưu này tin rằng giáo lý mà họ chủ trương
    là giáo lý do chính Đức Phật lịch sử đã thuyết giảng, và chỉ dành riêng cho những đệ tử nào
    có khả năng hấp thụ cao qua những khóa tu học chuyên biệt.

    Lý tưởng của một vị Bồ tát

    Các chuyên gia về lịch sử tôn giáo thì tin nhiều hơn vào thuyết cho rằng Đại thừa Phật
    giáo được dần dần hình thành từ những khái niệm mà một số học phái xưa đã thiết lập từ
    trước, chẳng hạn như các học phái Đại chủng bộ và Nhất thiết hữu bộ. Một số các luận thuyết
    trên đây đã được bổ khuyết và khai triển thêm để trở thành các luận thuyết của Đại thừa. Dầu
    sao thì Đại thừa Phật giáo cũng cho thấy một sự biến đổi thật căn bản, có nghĩa là chủ trương
    một lý tưởng mới đó là sự hy sinh của người Bồ tát vì lợi ích của chúng sinh và sự trau dồi trí
    tuệ giúp cho người Bồ tát trở thành một vị Phật hoàn hảo và toàn năng - và đó cũng là mục
    đích chung để tất cả mọi người tu tập nhìn vào. Học phái này đặt vị thế của vị A-la-hán vào
    một tình trạng tạm thời (trước khi trở thành một vị Phật thật sự), và xác nhận rằng Đại thừa là một
    thừa duy nhất chủ trương giúp tất cả chúng sinh đạt được sự Giác ngộ hoàn hảo, không phân
    biệt bất cứ một chúng sinh nào. Đối với Đai thừa Phật giáo sự tu tập không phải chỉ dành
    riêng cho hàng tăng lữ mà người thế tục cũng có thể tu tập được. Niết bàn không còn là một
    biên giới ngăn cách mà người tu hành khi đã vượt qua thì không còn khả năng nào để giúp đỡ
    chúng sinh đang vướng mắc trong cõi ta bà. Các vị đại Bồ tát và chư Phật sau khi đã nhập vào
    niết bàn vẫn có thể tiếp tục thực thi những hành động vị tha của mình nhờ vào Ba thân
    (Trikaya) [Tam thân Phật, có nghĩa là một vị Phật có thể hiển hiện dưới ba thể dạng khác nhau: thân con người
    (tứ đại), thân tâm linh (manomayakaya) và thân Đạo Pháp (Dharmanakaya)]. Với một tầm nhìn thật bao
    quát, Đại thừa Phật giáo tự cho mình có những hướng đi rộng lớn và vì thế đã xếp các học
    phái xưa vào Tiểu thừa Phật giáo (Hynayana) có nghĩa là "Thừa nhỏ hơn".

    Tuy nhiên dầu cho toàn bộ Đại thừa đều hướng vào một lý tưởng chung và duy nhất là
    lòng từ bi vô biên của người Bồ tát, nhưng vẫn cho thấy có hai trường phái khác nhau.
    Trường phái thứ nhất là "Trung quán tông" (Madhyamaka) tức "Con đường Trung dung"
    đứng vào giữa hai chủ thuyết hay vị thế cực đoan: chủ thuyết thứ nhất tin có một vị Trời hoặc
    tin vào một linh hồn bất diệt và chủ thuyết thứ hai chủ trương thuyết hư vô (không có gì cả).
    Trung quán tông do một triết gia thật lỗi lạc thuộc thế kỷ thứ II là ngài Long Thụ khởi xướng,
    đã chứng minh cho thấy đặc tính phổ quát và toàn cầu của Tánh không bằng cách phá vỡ bằng
    lý luận mọi cấu trúc căn bản của tất cả các khái niệm triết học Ấn độ đã có từ trước. Trường
    phái thứ hai là Du-già hành tông (Yogacara) còn gọi là Duy thức tông (Vijnanavada) do đại
    sư Vô Trước (Asanga) và người em là đại sư Thế Thân (Vasubandu) chủ xướng. Trường phái
    này phân tích một cách vô cùng tinh tế các hiện tượng trong thiên nhiên liên hệ đến các điều
    kiện tâm lý của con người, để chứng minh cho thấy là mọi sự cảm nhận của giác cảm sẽ biến
    thành những tạo tác trong tâm thức. Mặc dù hai trường phái trên đây đã mang lại nhiều sự
    tranh biện đối chọi nhau, nhưng thật ra trên thực tế thì phải nói là cả hai đã bổ khuyết cho
    nhau, trường phái thứ nhất chủ trương sự tuyệt đối (của Tánh không) và trường phái thứ hai thì
    phân tích sự vận hành của ảo giác và tìm cách giúp chúng ta tháo gỡ những ảo giác ấy để tự
    giải thoát cho chính mình. Đại thừa Phật giáo không phải chỉ tự giới hạn mình trong lãnh vực
    triết học mà còn làm phát sinh ra việc thờ phụng chư Phật chẳng hạn như Đức Phật A-di-đà và
    cả các vị Bồ tát chẳng hạn như Bồ tát Quán thế âm. Sự thờ phụng đó mang tính cách rất đại
    chúng và rất phổ cập tại Trung quốc, Nhật bản và Tây tạng.

    Tuy thế vào thế kỷ thứ V trong khi các học phái Phật giáo xưa và Phật giáo Đại thừa
    còn đang vướng mắc trong lãnh vực phân tích triết học và trong các cách bình giải thật phức
    tạp, thì có một học phái mới phát sinh, đó là Kim cương thừa (Vajrayana) hay là "Thừa Kim
    cương". Thừa này đưa ra một phương pháp tu tập mới ghép thêm vào con đường Đại thừa,
    phương pháp này sử dụng các kỹ thuật cực mạnh của du-già (Yoga), sự quán tưởng và các câu
    tụng niệm thần bí gọi là man-tra giúp cho người tu tập có thể đạt được Giác ngộ một cách
    nhanh chóng hơn. Học phái này dựa vào các kinh sách gọi là tan-tra (vì thế Kim cương thừa
    còn có tên là Phật giáo tan-tra) mà các môn đệ cho rằng đã trực tiếp xuất phát từ Đức Phật (qua
    sự cảm ứng của các vị đại sư ngoại lệ hoặc do những khám phá kỳ diệu các kinh sách tan-tra cất giấu trong các
    nơi bí mật). Thật ra thì trong thời gian này cũng có một học phái tan-tra khác xuất hiện nhưng
    lại thuộc vào Ấn giáo, hoàn toàn khác hẳn với tan-tra của Kim cương thừa từ kỹ thuật cho đến
    nghi lễ, kể cả các vay mượn lẫn nhau: tan-tra thừa Phật giáo và tan-tra thừa Ấn giáo thuộc vào
    hai thế giới hoàn toàn khác biệt nhau.

    Sự khoan dung đối với các nền văn hóa địa phương

    Một số học phái Phật giáo xưa tuy vẫn còn tiếp tục tồn tại cho đến thế kỷ thứ VII tại
    Ấn và nhất là vẫn còn được truyền bá tại Đông nam Á và các quốc gia dọc theo con đường tơ
    lụa và cả Inđônéxia, nhưng cũng đã bắt đầu suy yếu và sau đó thì dần dần biến mất, chỉ còn
    lại Phật giáo Nguyên thủy Theravada là còn tiếp tục phát triển tại Tích Lan. Học phái Nguyên
    thủy Theravada xuất phát từ học phái Trưởng lão bộ (Sthaviravada) là học phái duy nhất đã
    thừa hưởng được những gì thuộc nền Phật giáo xưa mà vẫn còn tồn tại đến nay. Phật giáo Đại
    thừa thì được truyền bá sang Trung quốc nhờ vào con đường tơ lụa, và sau đó thì được đưa
    vào Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản. Đại thừa Phật giáo cũng đã được truyền bá rất sớm
    vào xứ Khmer (Campuchia ngày nay), Miến điện và Siam (Thái Lan ngày nay), nhưng sau đó đã bị
    Phật giáo Nguyên thủy hoàn toàn thay thế kể từ thế kỷ XII. Đại thừa Phật giáo được đưa vào
    Tây tạng vào thế kỷ thứ VIII, và tại đây sự kết hợp giữa Đại thừa, Kim cương thừa và phép tu
    giới của người xuất gia thuộc Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada) đã làm phát sinh ra Phật giáo
    Tây tạng rồi sau đó thì được truyền sang Mông cổ (thế kỷ XIII). Ngoài lãnh thổ Tây tạng,
    Kim cương thừa còn tạo được nhiều ảnh hưởng rộng lớn ở Nepal, Inđônexia (chứng tích là
    ngôi đền Borobudur) và xứ Khmer, và sau đó đến lượt Trung quốc (thế kỷ thứ VII đến thứ IX)
    trước khi truyền sang Nhật Bản vào năm 805 và ngày nay vẫn còn tồn tại qua các học phái
    như Chân ngôn tông (Shingon) và Thiên thai tông (Tendai).

    Phật giáo là một tôn giáo nổi tiếng mềm dẻo và đã từng khoác lên cho mình nhiều màu
    sắc của các nền văn hóa khác nhau, sự kiện đó cho thấy một cách rõ rệt bản chất khoan dung
    của Phật giáo đối với các tập tục địa phương. Sự khoan dung đó nổi bật nhất trong các sinh
    hoạt nghệ thuật mang tính cách thiêng liêng và qua các hinh thức tu tập của quảng đại quần
    chúng. Tuy nhiên chúng ta cũng không nên để cho sự đa dạng đó che lấp tính cách độc đáo và
    duy nhất trong giáo lý của Đức Phật, vì đó chính là những gì giúp cho những người Phật giáo
    có thể nhận ra nhau để đến gần với nhau.

    Bures-Sur-Yvette, 23.03.10
    Hoang Phong chuyển ngữ

    🏷️ Chủ đề: #tư tưởng của đức phật

    Viết bình luận

    Lưu ý : Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng.
    Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.

    TIN LIÊN QUAN

    Tứ Niệm Xứ và cách ứng dụng vào đời sống của người Phật tử

    Tứ Niệm Xứ và cách ứng dụng vào đời sống của người Phật tử

    Khái niệm 'Tự tánh' theo truyền thống Nikāya

    Khái niệm 'Tự tánh' theo truyền thống Nikāya

    Nghiệp thức và tần số

    Nghiệp thức và tần số

    Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya

    Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya

    Phật giáo Nguyên thủy nói gì về tụng kinh, cầu siêu và hồi hướng cho người đã khuất?

    Phật giáo Nguyên thủy nói gì về tụng kinh, cầu siêu và hồi hướng cho người đã khuất?

    Bốn nguồn gốc của sắc

    Bốn nguồn gốc của sắc

    Nghiệp thức và chuyển hóa

    Nghiệp thức và chuyển hóa

    Triết học Phật giáo Đại thừa: Biện chứng về tự tánh từ Tánh Không đến Chân Như

    Triết học Phật giáo Đại thừa: Biện chứng về tự tánh từ Tánh Không đến Chân Như

    Danh lợi như phù vân I 名利如浮雲

    Danh lợi như phù vân I 名利如浮雲

    Luận ngũ uẩn

    Luận ngũ uẩn

    Cứu độ vong linh trong giai đọan thân Trung Ấm

    Cứu độ vong linh trong giai đọan thân Trung Ấm

    Giới tâm người tu Phật

    Giới tâm người tu Phật

    Bài viết xem nhiều

    Tháng Bảy vu lan về…

    Tháng Bảy vu lan về…

    Tạp bút về Mẹ mùa vu lan 2022

    Tạp bút về Mẹ mùa vu lan 2022

    Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya

    Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya

    Hà Tĩnh: Sẵn sàng cho Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh lần thứ V nhiệm kỳ 2026 - 2031

    Hà Tĩnh: Sẵn sàng cho Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh lần thứ V nhiệm kỳ 2026 - 2031

    Hòa thượng thiền sư Kim Triệu

    Hòa thượng thiền sư Kim Triệu

    Hà Tĩnh: Ban Trị sự GHPGVN tỉnh dâng hương bạch Phật, bạch Tổ và tri ân các Anh hùng Liệt sĩ trước thềm Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh

    Hà Tĩnh: Ban Trị sự GHPGVN tỉnh dâng hương bạch Phật, bạch Tổ và tri ân các Anh hùng Liệt sĩ trước thềm Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh

    Chè xanh góp phần giảm axit uric cho người bị gút

    Chè xanh góp phần giảm axit uric cho người bị gút

    Hà Nội: Lễ khởi công xây dựng Trung tâm văn hóa Phật giáo Thủ đô

    Hà Nội: Lễ khởi công xây dựng Trung tâm văn hóa Phật giáo Thủ đô

    • Tin tức
    • Miền Bắc
    • Miền Trung
    • Miền Nam
    • Quốc tế
    • Vesak
    • Xã hội - Tâm linh
    • Thông báo
    • Tu học
    • Tuổi trẻ - Nhật ký
    • Thiền tông
    • Tịnh độ
    • Mật tông
    • Tìm hiểu - Vấn đáp
    • Luận đàm - Giảng kinh
    • Phật pháp
    • Sự kiện - Vấn đề
    • Giáo dục
    • Khoa học
    • Đời sống
    • Nhân vật
    • Nghi lễ
    • Nghi lễ tổng hợp
    • Thư viện
    • Phật giáo Việt Nam
    • Bài giảng - Kinh
    • Phim-Nhạc Phật
    • Thơ -Truyện- Sách
    • Văn hóa
    • Phật sử-Tưởng niệm
    • Ngày truyền thống PG
    • Tác phẩm - Nghệ thuật - Đồ hoạ
    • Giáo dục - Nhân vật - Cộng đồng
    • Văn học - Tùy bút
    • Ý kiến - Trao đổi - Dư luận
    • Xuân
    • Hoằng pháp
    • Giới thiệu kinh - sách
    • Hoằng pháp
    • Tự viện
    • Miền bắc
    • Miền trung
    • Miền nam
    • Quốc tế
    • Ẩm thực
    • Lời Phật dạy
    • Tin tức - Ẩm thực chay
    • Thực phẩm - Thức uống
    • Từ thiện
    • Tin tức
    • Gương điển hình
    • Cần giúp đỡ
    • Trang chủ
    • Giới thiệu
    • Facebook
    • Youtube
    • Twitter
    • Copyright NGUOIPHATTU.VN
    Thời gian truy vấn : 0.1406198 s
    Trang chủ Chuyên mục Pháp âm Tìm kiếm Lên đầu