Do nhu cầu tín ngưỡng của nhân loại, nhiều tôn giáo ra đời để đáp ứng căn cơ của tín đồ. Từ đó, các tôn giáo phát sinh nhiều hệ phái, và mỗi hệ phái lại hình thành những hình thức sinh hoạt riêng theo tôn chỉ của từng môn phong. Kitô giáo cũng phân chia thành nhiều dòng như dòng Mến Thánh Giá, dòng Vinh Sơn, dòng Đa Minh, dòng Phanxicô…

Hiện nay, môi trường sinh hoạt của Phật giáo trên đất nước ta có những pháp hội, đạo tràng sinh hoạt theo tôn chỉ và niềm tin riêng như: pháp hội Địa Tạng, pháp hội Dược Sư, pháp hội chùa Di Lặc, pháp hội Mật tông, pháp hội Hoa Nghiêm, pháp hội Long Hoa, pháp hội Quan Âm, pháp hội chùa Khai Nguyên, pháp hội hộ niệm…; đạo tràng Pháp Hoa, đạo tràng Liên Trì Địa Tạng…
Đạo tràng là một nhóm sinh hoạt thường xuyên, còn pháp hội là một tổ chức có quy mô, thỉnh thoảng diễn ra, quy tụ số lượng tín đồ đông đảo. Dù là đạo tràng hay pháp hội, mỗi hình thức đều có mục đích và chí hướng tu tập riêng biệt.
Riêng pháp hội hộ niệm, tuy được tổ chức với quy mô lớn, mục đích chủ yếu vẫn là hướng đến việc hộ niệm cho người lâm chung. Tại đây, các thành viên lắng nghe những vị được thỉnh giảng trình bày kinh nghiệm, kiến giải hoặc thực trạng của từng trường hợp mà các vị đã trải qua, qua đó giúp tín chúng phát khởi niềm tin sâu xa đối với phương pháp hộ niệm.
Hộ niệm khơi dậy tâm vị tha đối với người lâm chung. Đạo tràng hộ niệm hoạt động theo thời gian do gia chủ yêu cầu. Không chỉ trì niệm Phật hiệu, đạo tràng còn tụng các bộ kinh như kinh A Di Đà, sám hối Hồng danh, Lương Hoàng sám hoặc Thủy sám.
Khi người đã mất, nếu sinh thời họ chuyên tâm niệm Phật thì ban hộ niệm sẽ trợ duyên, nhắc nhở hương linh tỉnh ngộ, hướng về đức A Di Đà, không để bị nghiệp thức dẫn dắt.
Nếu sinh thời không biết tu tập, đắm nhiễm dục lạc, tạo nhiều ác nghiệp thì cần khai thị để hương linh tỉnh ngộ, buông bỏ mọi ác duyên. Việc này rất khó. Ban hộ niệm và việc khai thị chỉ có thể giúp thân nhân hiện tiền sớm gieo vào lòng niềm tin nhân quả mà thôi.
Ban hộ niệm trì danh Phật hiệu theo thói quen cũng ít có tác dụng. Tụng nhanh, tụng liên tục như chiếc máy, không nhiếp tâm thanh tịnh, không hướng tâm đến hương linh thì việc hộ niệm có thể chỉ còn là thực hiện một nhiệm vụ theo xu hướng phong trào. Hộ niệm với tâm niệm giúp người để bản thân được phước lại càng sai lệch.
Suốt thời gian hộ niệm, cứ mong cho xác chết mềm mại, tin rằng như vậy là được siêu sinh, thì đó là điều không thể khẳng định. Thoại tướng tốt, gương mặt hồng hào như đang ngủ, tỏa hương thơm và nhiều hiện tượng hiếm lạ không đồng nghĩa với việc chắc chắn hương linh sẽ siêu thoát.
Thoại tướng tốt phần lớn do công phu tu tập lúc sinh tiền hoặc do phúc duyên nhiều đời, kết hợp với đạo lực của đại chúng. Người thiếu công phu tu tập lúc sinh tiền, thiếu duyên phúc nhiều đời thì khó có được thoại tướng tốt đẹp, cho dù đạo tràng niệm Phật nhiều đến đâu cũng chỉ có thể như vậy. Đạo tràng không hiểu nguyên lý này dễ sinh tâm nghi ngờ hiệu quả trợ niệm khi thoại tướng biểu lộ không đẹp, cơ thể không mềm mại…
Thấy xác chưa mềm, thỉnh thoảng đến sờ mó, cầm tay chân đưa lên đưa xuống, đụng chạm vào thể xác gây bức xúc, khó chịu, thậm chí khiến hương linh nổi sân vì đau đớn, đó là điều tối kỵ. Cũng giống như người đang ngủ bị đụng chạm thì sinh khó chịu, bực bội.
Thân thể mềm mại chưa đủ yếu tố để xác định việc siêu sinh. Gương mặt tươi nhuận, thanh thoát có thể là dấu hiệu để tin rằng hương linh không bị đọa vào ba đường ác.
Điều cơ bản đối với người tu tập pháp môn Tịnh độ là: Tín, hạnh, nguyện. Như vậy, chỉ có đức tin thôi là chưa đủ. Thiếu công hạnh, cứ nhiệt tâm niệm danh hiệu Phật rồi “xin cho con được vãng sinh Tịnh độ” thì cũng vô ích.
Vấn đề siêu sinh lấy chủ thể làm chính, tha lực là phụ. Nếu chủ thể không đủ ba tiêu chí vừa kể thì tha lực đành chịu. Tha lực không có quyền quyết định việc siêu thăng. Phật không cho ai bất cứ điều gì, ngay cả tình thương và lòng từ. Nếu ta không khởi phát sự đồng điệu để tương ứng với lòng từ của Phật thì ta cũng không cảm nhận được lợi ích nào.
Đi đôi với niềm tin và ước nguyện cần có công hạnh. Ước nguyện là động lực hướng đến, không thể chỉ xin Phật cho con được vãng sinh; đó là điều sai lầm. Công hạnh cần hội đủ yếu tố từ bi, lợi mình, lợi người.
Chỉ hành trì nội môn với đức tin và ước nguyện khác nào yếm thế, bi quan, chỉ biết mình mà không cần biết đến khổ đau chung quanh, không tạo phúc báu trong cuộc sống thì cũng thiếu yếu tố cơ bản. Dù tu pháp nào cũng không thể tách lìa cuộc sống mang nặng “tứ ân” trong xã hội và đối với các loài chúng sinh chung quanh. Đó là bi và trí của một hành giả.
Một đạo tràng hay một pháp hội chỉ chú trọng đến tín và nguyện mà không đề cập đến công hạnh là điều thiếu sót.
Niệm Phật chậm để lắng nghe chính mình. Niệm nhanh dễ lãng tâm, sinh vọng tưởng, biến thành thói quen mà không chú ý.
Tâm thể và Phật thể là một. Không cần niệm nhiều, chỉ cần lắng tâm niệm chí thành, tha thiết, chí nguyện tha thiết và hành động lợi mình, lợi người, làm tròn tiêu chí của bổn môn: “Tín, hạnh, nguyện”, thì việc hộ niệm mới có phần giá trị.
NHẤT CÚ DI ĐÀ VÔ BIỆT NIỆM, BẤT LAO ĐÀN CHỈ ĐÁO TÂY PHƯƠNG
Minh Mẫn
Ngày 28/10/2026