Nhóm bốn thứ ba
Ở đây quý vị cần phải hiểu hai loại cảm giác về tâm: bằng thiền chỉ (samatha) và bằng thiền minh sát (vipassana).
Người hành thiền phải nhập vào sơ thiền hơi thở (ānāpāna first jhāna), nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Xuất khỏi mỗi bậc thiền, hành giả phải nhấn mạnh đến tâm (citta).
Lúc đó, chúng tôi có thể nói rằng hành giả cảm giác được tâm trong lúc đang thở vô và thở ra.
Đây là lối giải thích theo thiền chỉ.
Nếu hành giả chuyển sang hành thiền minh sát (vipassana), hành giả nên nhập vào sơ thiền, lấy tợ tướng hơi thở (ānāpāna paṭibhāga-nimitta) làm đối tượng.
Xuất khỏi thiền đó, hành giả phải quán ba mươi bốn tâm hành, nhấn mạnh đến tâm như vô thường, khổ và vô ngã.
Kế tiếp, hành giả cũng thực hành pháp quán như vậy đối với nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.
Lúc đó, chúng tôi có thể nói rằng hành giả cảm giác được tâm trong lúc đang thở vô và thở ra.
Đây là lối giải thích theo thiền minh sát (vipassana).
Trong trường hợp này, chúng ta có thể giải thích theo hai cách: thiền chỉ (samatha) và thiền minh sát (vipassana).
Hành giả nhập vào sơ thiền, lấy tợ tướng hơi thở (ānāpāna paṭibhāga-nimitta) làm đối tượng.
Xuất khỏi thiền đó, hành giả phải quán các thiền chi. Có năm thiền chi, kể cả hỷ trong sơ thiền. Do hỷ đó, tâm hành giả được hân hoan.
Vì thế, khi hành giả đang trú trong sơ thiền, tâm hành giả được hân hoan bởi hỷ.
Vào lúc đó, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đã làm cho tâm hân hoan trong lúc thở vô và thở ra.
Tình trạng tương tự cũng xảy ra trong nhị thiền.
Đây là điều kiện của thiền chỉ (samatha).
Nếu hành giả chuyển sang thiền minh sát (vipassana), hành giả phải quán các pháp sơ thiền, bao gồm hỷ, là vô thường, khổ và vô ngã. Hành giả cũng nên làm như vậy đối với nhị thiền.
Khi hành giả đang quán theo cách này, hỷ có mặt trong minh sát trí của hành giả vì có hỷ trong đối tượng của minh sát trí.
Tâm hành giả được hân hoan nhờ hỷ đó.
Vào lúc ấy, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đã làm cho tâm hân hoan trong lúc thở vô và thở ra.
Đây là điều kiện của thiền minh sát (vipassana).
Ở đây cũng vậy, hành giả nhập vào cả bốn thiền chứng, lấy tợ tướng hơi thở (ānāpāna paṭibhāga-nimitta) làm đối tượng.
Trong mỗi bậc thiền đều có nhất tâm (ekaggatā). Nhất tâm ấy được gọi là định (samādhi).
Vì thế, khi hành giả đang trú trong bất cứ bậc thiền nào, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang tập trung tâm hay làm cho tâm định tĩnh trong lúc thở vô và thở ra.
Đây là sự giải thích theo lối thiền chỉ.
Nếu hành giả chuyển sang hành thiền minh sát, hành giả phải quán các pháp thiền (jhāna dhammas) của những bậc thiền này như vô thường, khổ và vô ngã.
Khi hành giả đang quán theo cách này, tâm hành giả tập trung trên ba tính chất vô thường, khổ và vô ngã của các pháp thiền ấy.
Vào lúc đó, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang làm cho tâm định tĩnh trong lúc thở vô và thở ra.
Đây là sự giải thích theo lối thiền minh sát.
Khi hành giả đang trú trong sơ thiền, lấy tợ tướng hơi thở (ānāpāna paṭibhāga-nimitta) làm đối tượng, tâm hành giả được giải thoát khỏi năm triền cái.
Chúng tôi có thể nói rằng tâm hành giả đang được giải thoát khỏi năm triền cái trong lúc thở vô và thở ra.
Kế đó, hành giả nhập vào nhị thiền, lấy tợ tướng hơi thở (ānāpāna paṭibhāga-nimitta) làm đối tượng.
Vào lúc đó, tâm hành giả được giải thoát khỏi tầm (vitakka) và tứ (vicāra).
Chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang giải thoát tâm khỏi tầm và tứ trong lúc thở vô và thở ra.
Kế tiếp, hành giả nhập vào tam thiền, lấy tợ tướng hơi thở làm đối tượng.
Vào lúc đó, tâm hành giả được giải thoát khỏi hỷ (pīti).
Chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang giải thoát tâm khỏi hỷ trong lúc thở vô và thở ra.
Tiếp nữa, hành giả nhập vào tứ thiền, lấy tợ tướng hơi thở làm đối tượng.
Vào lúc đó, tâm hành giả được giải thoát khỏi lạc (sukha).
Chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang giải thoát tâm khỏi lạc trong lúc thở vô và thở ra.
Đây là tình trạng của thiền chỉ (samatha).
Nếu hành giả chuyển sang hành thiền minh sát (vipassana), hành giả phải nhập vào sơ thiền, lấy tợ tướng hơi thở làm đối tượng.
Xuất khỏi thiền ấy, hành giả quán các pháp sơ thiền như vô thường, khổ và vô ngã.
Khi hành giả thấy rõ ba đặc tính này của các pháp sơ thiền bằng minh sát trí, tâm hành giả được giải thoát khỏi ảo tưởng về thường, lạc và ngã.
Chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang giải thoát tâm khỏi ảo tưởng về thường, lạc và ngã trong lúc thở vô và thở ra.
Đây là tình trạng của thiền minh sát (vipassana).
Vì thế, nhóm bốn này nhấn mạnh đến tâm. Đó là lý do vì sao nó được gọi là quán tâm (cittānupassanā).
Tuy nhiên, hành giả không nên phân biệt chỉ một mình tâm mà cũng nên quán các tâm hành đồng sinh của nó nữa.
Trong phần niệm hơi thở (ānāpāna) của Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), khi hành giả đang phân biệt năm uẩn, hay assāsa-passāsa kāya (xuất nhập tức thân – hơi thở vào ra), rūpa kāya (sắc thân) và nāma kāya (danh thân), hay danh sắc cùng tột, các pháp thiền (jhāna dhammas) đã bao gồm trong đó.
Vì thế, những cách thực hành được giới thiệu trong hai bản kinh này về căn bản là như nhau.
Trong phần này, Đức Phật chỉ dạy thiền minh sát (vipassana).
Ở đây hành giả nên phân biệt bốn trường hợp:
Anicca: vô thường.
Aniccatā: vô thường tánh.
Aniccānupassanā: vô thường tùy quán.
Aniccānupassī: người quán vô thường.
Thế nào là anicca?
“Aniccanti pañcakkhandhā.”
“Anicca ám chỉ năm uẩn.”
Tại sao năm uẩn được gọi là vô thường?
Vì chúng đang biến diệt nên được gọi là vô thường (anicca).
Thế nào là aniccatā?
Aniccatā có nghĩa là bản chất vô thường của năm uẩn.
Thế nào là aniccānupassanā?
Đó là minh sát trí thấy tính chất vô thường của năm uẩn.
Thế nào là aniccānupassī?
Đó là người hành thiền thấy bản chất vô thường của năm uẩn.
Hành giả phải thấy rõ bốn trường hợp này.
Trước tiên, hành giả phải phân biệt năm uẩn.
Thứ hai, hành giả phải quán tính chất vô thường của năm uẩn.
Trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), sau khi người hành thiền đạt đến tứ thiền, Đức Phật dạy:
“Như vậy, vị ấy sống quán thân như nội thân. Hay vị ấy sống quán thân như ngoại thân. Hay vị ấy sống quán thân như nội ngoại thân.”
Hành giả phải phân biệt cả năm uẩn bên trong (nội thân) lẫn bên ngoài (ngoại thân).
Trong nhóm bốn này của Kinh Niệm Hơi Thở (Ānāpānasati Sutta), Đức Phật cũng dạy phân biệt năm uẩn.
Do đó, những phương pháp được dạy trong hai bản kinh này là như nhau.
Có hai loại biến diệt (virāga):
Khayavirāga.
Accantavirāga.
Khayavirāga có nghĩa là sự biến mất do sự hủy diệt của năm uẩn.
Accantavirāga là sự biến mất hoàn toàn, tức Niết-bàn.
Trước tiên, hành giả phải quán năm uẩn như vô thường, khổ và vô ngã một cách hệ thống.
Sau đó, hành giả phải nhấn mạnh chỉ sự diệt hay sự biến mất mà thôi.
Khi minh sát trí của hành giả trở nên thành thục, hành giả sẽ chứng ngộ Niết-bàn.
Niết-bàn là sự diệt hoàn toàn của năm uẩn, bởi vì không có năm uẩn trong Niết-bàn.
Ở đây, hành giả phải phân biệt minh sát trí, đạo trí và quả trí.
Nếu hành giả có thể quán chỉ sự diệt của năm uẩn như vô thường, khổ và vô ngã, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang quán sự diệt của năm uẩn trong lúc thở vô và thở ra.
Có hai loại tịch diệt (nirodha):
Khaṇanirodha (sát-na tịch diệt).
Accantanirodha (cứu cánh tịch diệt).
Khaṇanirodha là sự diệt trong từng sát-na của năm uẩn.
Accantanirodha là sự diệt hoàn toàn của năm uẩn, tức Niết-bàn (Nibbāna).
Sau khi đã quán năm uẩn như vô thường, khổ và vô ngã một cách hệ thống, hành giả sẽ chỉ thấy giai đoạn diệt trong từng sát-na của năm uẩn.
Minh sát trí này sẽ tạm thời loại trừ các phiền não.
Vào lúc đó, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang quán sát-na tịch diệt của năm uẩn trong lúc thở vô và thở ra.
Nếu hành giả chứng ngộ Niết-bàn, hành giả phải nhập vào thiền quả, lấy Niết-bàn làm đối tượng.
Trong Niết-bàn, năm uẩn diệt hoàn toàn.
Vì thế, khi hành giả đang trú trong thiền quả, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang quán sự tận diệt của năm uẩn trong lúc thở vô và thở ra.
Có hai loại từ bỏ (paṭinissagga):
Vossagga-paṭinissagga.
Pakkhandana-paṭinissagga.
Vossagga-paṭinissagga nghĩa là từ bỏ như sự rút lui.
Pakkhandana-paṭinissagga là từ bỏ như sự trực nhập.
Hành giả phải quán năm uẩn như vô thường, khổ và vô ngã một cách hệ thống cho đến trí thấy sự tan hoại (bhaṅga-ñāṇa).
Khi minh sát trí của hành giả thành thục thì:
Vô thường tùy quán (aniccānupassanā) sẽ từ bỏ ngã mạn.
Khổ tùy quán (dukkhānupassanā) sẽ từ bỏ tham ái.
Vô ngã tùy quán (anattānupassanā) sẽ từ bỏ tà kiến.
Khi các minh sát trí từ bỏ những loại phiền não khác, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang quán từ bỏ các phiền não trong lúc thở vô và thở ra.
Ở đây, minh sát trí không những từ bỏ phiền não phát sinh do duyên năm uẩn mà còn hướng tâm hành giả về Niết-bàn, trạng thái diệt tận của năm uẩn và mọi phiền não.
Vì thế, minh sát trí cũng được gọi là vossagga-paṭinissagga – từ bỏ như sự rút lui.
Một ngày nào đó, hành giả có thể chứng ngộ Niết-bàn.
Vào lúc chứng ngộ Niết-bàn, đạo trí sẽ tiêu diệt các phiền não theo từng giai đoạn.
Cuối cùng, tất cả mọi phiền não sẽ được diệt tận hoàn toàn.
Vào lúc đó, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang quán từ bỏ các phiền não trong lúc thở vô và thở ra.
Hơn nữa, đạo trí sẽ trực nhập Niết-bàn.
Vì thế, chúng tôi có thể nói rằng hành giả đang quán từ bỏ như sự nhập vào Niết-bàn vậy.
Cả thảy có bốn nhóm bốn.
Trong mỗi giai đoạn của mỗi nhóm bốn đều có thở vô và thở ra.
Vì thế có mười sáu loại thở vô và mười sáu loại thở ra.
Tổng cộng có ba mươi hai loại thở.
Đây là sự hướng dẫn của Đức Phật nhằm chỉ cho hành giả cách phải thở vô và thở ra như thế nào để chứng ngộ Niết-bàn.
Hiện nay, quý vị đang thở vô và thở ra trong từng khoảnh khắc của cuộc đời.
Quý vị nên tự hỏi mình xem có đang thở theo sự hướng dẫn của Đức Phật hay không.
Nếu quý vị thở vô và thở ra theo lời dạy của Đức Phật, một ngày nào đó quý vị sẽ đạt đến quả vị A-la-hán.
Vào lúc đắc A-la-hán, mọi phiền não sẽ diệt tận hoàn toàn.
Sau khi Parinibbāna (Bát Niết-bàn), tất cả năm uẩn và khổ đau sẽ chấm dứt vĩnh viễn.
Vì thế, hãy thực hành hơi thở theo sự hướng dẫn của Đức Phật.
Như vậy, không có sự khác nhau giữa phương pháp dạy trong phần niệm hơi thở (ānāpāna) của Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta) và phương pháp dạy trong bốn nhóm bốn (ānāpāna catukka) của Kinh Niệm Hơi Thở (Ānāpānasati Sutta).
Sở dĩ Đức Phật dạy những cách khác nhau như thế là tùy theo căn tánh của người nghe.
Song ý nghĩa và mục đích giải thoát của hai phương pháp này là hoàn toàn tương đồng.
Nguồn: Thiền sư Pa-Auk Sayadawgyi